Nhọc nhằn nghề khai thác keo tràm

Phan Phương |

Những năm gần đây, giá gỗ nguyên liệu tăng cao đã thúc đẩy người dân các xã miền núi tỉnh Quảng Trị mở rộng diện tích rừng keo tràm. Cùng với đó, nghề khai thác rừng trồng phát triển mạnh, trở thành sinh kế quan trọng của hàng nghìn lao động địa phương, dù đây là công việc nặng nhọc và tiềm ẩn rủi ro.

Nghề vất vả, nguy hiểm

Mới 6 giờ sáng nhưng đội khai thác keo thuê gồm 20 người của anh Hồ Văn Long, người Bru-Vân Kiều ở bản An Bai, xã Kim Ngân, đã bắt đầu một ngày làm việc. Hôm nay, đội thợ của anh Long được giao khai thác rừng keo do chủ thuê vừa mua lại của người dân gần Quốc lộ 9C. Công việc được chủ thuê trọn gói từ cưa, bóc vỏ keo và vận chuyển  lên xe tải.

Anh Long cho biết, đội khai thác của anh được chia thành 2 nhóm. Trong khi nhóm nam làm những công việc nặng như cưa cây, phân khúc, bốc lên xe…, thì nhóm nữ chủ yếu phụ trách lột vỏ cây. Bình quân mỗi ngày, lao động nam kiếm được khoảng 400 nghìn đồng, lao động nữ 250 nghìn đồng. Riêng người làm thợ cưa được trả cao hơn vì công việc này đòi hỏi phải có kinh nghiệm và nhanh nhạy hơn.

Với thâm niên hơn 5 năm trong nghề, chị Hồ Thị Hoa, người Bru-Vân Kiều chia sẻ: “Gia đình mình làm rẫy nên cuộc sống rất khó khăn. Để có thêm thu nhập nuôi con ăn học, cả 2 vợ chồng cùng làm nghề khai thác keo thuê, mỗi ngày được trả hơn 600 nghìn đồng tiền công. Khai thác keo là lao động tay chân, ai siêng năng, có sức khỏe, chịu được vất vả thì đều làm được”.

 
 Khai thác keo ở xã Kim Ngân - Ảnh: P.P
 


Tuy vậy, theo những người làm nghề lâu năm, một chu trình khai thác keo không hề nhẹ nhàng. Từ việc phát dọn, cắt hạ cây bằng cưa xăng, đến phân khúc, bóc vỏ, rồi vận chuyển từng thân gỗ nặng hàng chục kg ra bãi tập kết. Ở khu rừng gần đường, việc vận chuyển đỡ vất vả, nhưng với những lô keo nằm ở địa hình hiểm trở, không có đường, công việc khai thác hoàn toàn bằng sức người.

Những ngày nắng ráo còn đỡ, vào ngày mưa, đất rừng trơn trượt, sườn đồi dốc đứng trở thành “cái bẫy” rất nguy hiểm, chỉ cần sơ sẩy là có thể trượt chân, ngã. Ngoài ra, người khai thác keo còn đối mặt với nhiều rủi ro khó lường như gặp rắn độc, ong vò vẽ…

Ông Lê Văn Hiền, một người chuyên thu mua rừng keo ở xã Lệ Ninh cho biết: “Khai thác keo không theo mùa. Khi cây keo đủ điều kiện, các chủ vườn mới gọi bán. Công việc khai thác keo rất vất vả. Nếu mua được những đồi keo sát đường, đi lại dễ dàng, chúng tôi sẽ giảm bớt chi phí nhân công, vận chuyển. Đối với những vườn keo ở khu vực khó đi lại, muốn khai thác phải mở đường để xe chuyên chở vào nơi gần nhất. Trung bình mỗi đợt thu mua keo, tôi phải sử dụng 20-30 lao động. Nếu không có người khai thác keo thuê thì những người thu mua rừng trồng như chúng tôi khó duy trì hoạt động”.

"Nở rộ" đội, nhóm khai thác keo

Để thích nghi với tính chất nặng nhọc của công việc, những người làm nghề khai thác keo thường tự tổ chức thành các đội nhóm, cùng nhau nhận khoán diện tích hoặc khối lượng công việc. Hình thức này không chỉ giúp tăng hiệu quả lao động mà còn là cách để mọi người hỗ trợ nhau trong những tình huống khó khăn.

Trong một khu rừng trồng ở bản Km14, xã Kim Ngân, nhóm của anh Hồ Văn Quỳnh tất bật khai thác keo cho người thuê. Khi một thân cây lớn được hạ xuống, người kéo, người bóc vỏ, người vận chuyển, công việc diễn ra nhịp nhàng. “Anh em làm với nhau quen rồi, ai cũng biết việc của mình nên rất nhanh và hiệu quả”, anh Quỳnh chia sẻ.

 
Người dân xã Dân Hóa dùng xe cải tiến vận chuyển keo về nơi tập kết - Ảnh: P.P 
 


Theo khảo sát của phóng viên, trên địa bàn các xã Lệ Ninh, Kim Ngân, Trường Phú, Trường Sơn, Trường Ninh, Kim Phú, Kim Điền… hiện có hàng trăm đội, nhóm khai thác keo thuê. Tại các bản thuộc các xã vùng rừng, hầu như đều có lực lượng khai thác keo thuê.

Theo thống kê của Sở Nông nghiệp và Môi trường, toàn tỉnh có hơn 200.000ha rừng trồng, với sản lượng khai thác mỗi năm rất lớn. Điều này tạo ra việc làm cho hàng nghìn lao động nông thôn, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã miền núi. Tuy nhiên, sự phát triển nhanh của nghề này cũng bộc lộ nhiều bất cập, mà một trong những vấn đề đáng lo ngại là điều kiện an toàn lao động. Hầu hết những người làm nghề khai thác keo tràm đều làm việc trong điều kiện không có trang bị bảo hộ đầy đủ. Nhiều người chỉ mang dép, quần áo thường ngày khi vào rừng. Việc sử dụng cưa xăng, dao rựa trong điều kiện địa hình phức tạp càng làm tăng nguy cơ tai nạn.

Bên cạnh đó, do đặc thù địa hình đồi núi dốc, việc cơ giới hóa trong khai thác keo còn hạn chế. Máy móc khó tiếp cận, khiến phần lớn công việc vẫn dựa vào sức người. Điều này không chỉ làm giảm năng suất mà còn kéo dài tình trạng lao động nặng nhọc.

“Người ta gọi khai thác keo thuê là một nghề cũng đúng, nhờ nó mà nhiều gia đình như tôi có thêm công việc để làm. Nghề này không cần vốn liếng, chỉ cần có sức khỏe, chịu khó là có thể kiếm được từ 300-400 nghìn đồng/ngày. Tuy vất vả, nhưng mỗi tháng làm hơn 20 ngày, tôi cũng có tiền lo cho cuộc sống gia đình, nuôi con ăn học”, chị Hồ Thị Hoa ở bản An Bai, xã Kim Ngân, chia sẻ.


Để nghề khai thác keo tràm phát triển bền vững, các địa phương cần có quy hoạch vùng rừng trồng, trong đó tính toán mở rộng hệ thống đường lâm nghiệp để tạo điều kiện cho xe vận tải vào tận nơi. Việc này sẽ giúp giảm bớt khâu vận chuyển thủ công, vốn là công đoạn tốn nhiều sức lực nhất hiện nay. Đồng thời, nghiên cứu đưa các thiết bị cơ giới phù hợp vào khai thác, nhằm nâng cao hiệu quả và bảo đảm an toàn cho người lao động.

Ngoài ra, việc xây dựng cơ chế bảo vệ người lao động cũng là vấn đề cấp thiết. Những người làm nghề khai thác rừng hiện nay chủ yếu làm việc tự do, không hợp đồng, không bảo hiểm. Khi xảy ra tai nạn, họ phải tự gánh chịu hậu quả. Điều này đặt ra yêu cầu về các chính sách hỗ trợ, bảo hiểm hoặc liên kết lao động để giảm thiểu rủi ro.

“Nghề khai thác keo góp phần tạo việc làm, cải thiện thu nhập cho người dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số. Nhưng để nghề này phát triển bền vững, an toàn hơn, cần triển khai đồng bộ các giải pháp từ hạ tầng, kỹ thuật đến chính sách lao động”, một lãnh đạo địa phương chia sẻ.

Nguồn tin: Báo Quảng Trị

Những người giữ nghề làm trống

Lê Mai |

Tiếp nối nghề truyền thống của cha ông, hiện nay vẫn có những người thợ trẻ đam mê, giữ gìn và phát huy nghề làm trống. Họ không chỉ là những người chế tác trống bằng đôi bàn tay khéo léo mà còn là người “giữ hồn” văn hóa, bảo tồn các kỹ thuật chọn gỗ, thuộc da để tạo ra âm thanh độc đáo cho trống.

Thăng trầm nghề nuôi trồng hải sản ở Vũng Chùa-Đảo Yến

Văn Minh |

 Nghề nuôi trồng hải sản trên biển có ở thôn 19/5, xã Phú Trạch được hơn 7 năm. Nghề này đã mang lại sự khấm khá cho hàng chục hộ dân nơi đây, với mức lãi ròng thu về hàng năm từ 150-400 triệu đồng/hộ. Tuy nhiên, 2 cơn bão số 5 và 10 của năm 2025 gần như đã “xóa sổ” nghề này ở địa phương. Với quyết tâm bám làng, bám biển để làm giàu, rất nhiều hộ dân ở làng biển này vẫn tiếp tục đầu tư khôi phục lại nghề theo hướng thích ứng hiệu quả hơn trước sự biến đổi khắc nghiệt của khí hậu, thời tiết.

Xây dựng hồ sơ Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia “Nghề trồng và chế biến cà phê Khe Sanh”

Điếu Ngao |

Hướng tới kỷ niệm 100 năm cà phê Khe Sanh, Phân viện Văn hóa, Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch miền Trung (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) vừa có văn bản đề nghị Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Trị khảo sát và xây dựng hồ sơ Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia “Nghề trồng và chế biến cà phê Khe Sanh”.

Người giữ “lửa” nghề truyền thống

Kô Kăn Sương |

Trăn trở trước nguy cơ mai một của nghề đan lát truyền thống do nhịp sống hiện đại, hàng chục năm qua, ông Côn Thủy (SN 1940), người Pa Kô ở thôn A Sau, xã Lìa, vẫn miệt mài duy trì nghề cha ông để lại. Giữa đại ngàn Trường Sơn, người nghệ nhân già này đang từng ngày gửi gắm một thông điệp: Hãy chung tay gìn giữ và phát huy những giá trị văn hóa độc đáo của địa phương.