Bước vào giai đoạn phát triển mới, đất nước đang đứng trước những thời cơ lớn để hiện thực hóa khát vọng xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045. Quá trình đó không chỉ đòi hỏi sự đổi mới mạnh mẽ về tư duy phát triển, hoàn thiện thể chế, xây dựng bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả mà còn đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với phương thức quản trị quốc gia theo hướng hiện đại, công khai, minh bạch, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ.
Trong bối cảnh đó, truyền thông chính sách được triển khai một cách chủ động, kịp thời, công khai, minh bạch ngay từ khi xây dựng chính sách, không tạo khoảng trống thông tin, không để các thế lực thù địch lợi dụng để xuyên tạc, chống phá; tăng cường ứng dụng công nghệ số, phát huy vai trò của báo chí, truyền thông và sự tham gia của người dân nhằm tạo sự đồng thuận xã hội và nâng cao hiệu quả quản trị.
Thực tiễn những năm gần đây cho thấy, nhiều chính sách lớn của Trung ương và địa phương như sắp xếp tổ chức bộ máy, cải cách hành chính, đột phá khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, sắp xếp đơn vị hành chính, triển khai mô hình chính quyền địa phương 2 cấp hay các chính sách liên quan đến đất đai, đầu tư, an sinh xã hội... đều có phạm vi tác động rộng, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích của người dân. Điều đó cho thấy, từ góc độ công tác xây dựng Đảng, truyền thông chính sách còn là một nội dung quan trọng của công tác chính trị, tư tưởng.

Truyền thông chính sách ngày nay đã vượt ra khuôn khổ của hoạt động thông tin, tuyên truyền đơn thuần để trở thành một công cụ quản trị hiện đại, một phương thức lãnh đạo của Đảng và là một nội dung quan trọng của công tác tuyên giáo và dân vận. Đây chính là sự chuyển biến từ tư duy "tuyên truyền" sang tư duy "đồng hành cùng chính sách", phù hợp với yêu cầu đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng. Nhận thức rõ yêu cầu đó, thời gian qua, cấp ủy, chính quyền tỉnh Quảng Trị luôn quan tâm đổi mới công tác thông tin, tuyên truyền theo hướng chủ động, kịp thời và sát thực tiễn.
Việc phối hợp giữa công tác tư tưởng với công tác dân vận được thực hiện đồng bộ hơn, tạo điều kiện để truyền thông chính sách không chỉ dừng lại ở việc cung cấp thông tin mà còn gắn chặt với việc nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, dư luận xã hội, tăng cường đối thoại, giải thích và tạo sự đồng thuận trong quá trình tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách. Điểm nổi bật trong thực tiễn Quảng Trị là việc từng bước chuyển từ truyền thông một chiều sang truyền thông tương tác.
Nếu như trước đây, việc truyền tải chủ trương, chính sách chủ yếu thông qua các hội nghị quán triệt, hệ thống báo cáo viên, tuyên truyền viên, phương tiện thông tin đại chúng thì hiện nay, cùng với việc phát huy các kênh truyền thống, tỉnh đã từng bước mở rộng truyền thông trên nền tảng số, khai thác hiệu quả mạng xã hội chính thống, các sản phẩm infographic, video ngắn, bản tin điện tử, hệ thống thông tin cơ sở và nhiều hình thức truyền thông trực quan khác.
Sự đổi mới này không chỉ góp phần nâng cao khả năng tiếp cận thông tin của người dân mà còn tạo ra môi trường tương tác hai chiều, giúp các cơ quan lãnh đạo, quản lý kịp thời nắm bắt phản hồi từ thực tiễn.
Trong quá trình triển khai các chủ trương lớn của tỉnh, đặc biệt là các nội dung liên quan đến sắp xếp tổ chức bộ máy, vận hành chính quyền địa phương 2 cấp, chuyển đổi số, cải cách hành chính, triển khai các dự án trọng điểm, công tác tuyên giáo và dân vận đã phát huy vai trò là lực lượng đi trước trong định hướng nhận thức, tạo sự thống nhất trong Đảng và sự đồng thuận trong xã hội.
Thông qua hệ thống báo cáo viên, tuyên truyền viên, đội ngũ cộng tác viên dư luận xã hội, các cơ quan báo chí, cổng thông tin điện tử và nền tảng truyền thông số, nhiều nội dung quan trọng đã được truyền tải kịp thời, góp phần giải đáp những vấn đề dư luận quan tâm, hạn chế thông tin sai lệch và củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và Nhân dân.
Việc đổi mới truyền thông chính sách ở Quảng Trị không chỉ hướng đến mục tiêu "thông tin nhanh hơn" mà còn hướng đến yêu cầu "thông tin đúng hơn, gần dân hơn và dễ tiếp cận hơn". Nhiều chủ trương, chính sách đã được truyền tải bằng ngôn ngữ gần gũi, dễ hiểu, kết hợp giữa văn bản chính thống với các hình thức trực quan như đồ họa thông tin, hình ảnh, video, chuyên trang, chuyên mục trên báo chí và mạng xã hội.
Đây là bước chuyển quan trọng từ tư duy "thông báo chính sách" sang tư duy "giải thích chính sách", giúp người dân không chỉ biết chính sách quy định gì mà còn hiểu vì sao phải thực hiện, lợi ích mang lại là gì và trách nhiệm của mỗi cá nhân trong quá trình thực hiện.
Cùng với đó, công tác nắm bắt, điều tra, nghiên cứu dư luận xã hội ngày càng được coi trọng như một bộ phận cấu thành của truyền thông chính sách. Điều này cho thấy truyền thông chính sách không chỉ là quá trình truyền tải thông tin mà còn là quá trình tiếp nhận thông tin, lắng nghe ý kiến xã hội để hoàn thiện quá trình lãnh đạo, quản lý.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác truyền thông chính sách trên địa bàn tỉnh vẫn đứng trước không ít khó khăn và thách thức. Một số nơi vẫn còn tư duy coi truyền thông là nhiệm vụ của cơ quan báo chí hoặc của ngành Tuyên giáo và Dân vận, trong khi chưa xác định đây là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị. Có những chủ trương, chính sách mới chỉ được truyền thông sau khi ban hành, chưa chú trọng việc truyền thông ngay từ giai đoạn xây dựng và lấy ý kiến, dẫn đến việc giải thích, tạo đồng thuận đôi khi còn chậm so với yêu cầu thực tiễn.
Chất lượng truyền thông trên nền tảng số giữa các cơ quan còn chưa đồng đều; kỹ năng truyền thông của một bộ phận cán bộ, công chức chưa đáp ứng yêu cầu trong môi trường số; việc khai thác dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo và các công cụ phân tích xu hướng dư luận còn hạn chế.
Trong bối cảnh truyền thông chính sách không chỉ là yêu cầu của hoạt động quản lý nhà nước mà còn là điều kiện quan trọng để củng cố niềm tin xã hội, tăng cường đồng thuận và huy động sức mạnh toàn dân trong thực hiện các mục tiêu phát triển, công tác truyền thông chính sách cần tập trung thực hiện một số định hướng và giải pháp trọng tâm sau:
Thứ nhất, đổi mới mạnh mẽ tư duy về truyền thông chính sách theo hướng lấy người dân làm trung tâm của quá trình truyền thông.
Điều quan trọng nhất không phải là truyền thông nhiều hơn mà là truyền thông đúng thời điểm, đúng đối tượng, đúng nội dung và đúng phương thức. Truyền thông chính sách phải được xem là một bộ phận cấu thành của quá trình hoạch định và thực thi chính sách, được triển khai ngay từ khi hình thành chủ trương, xây dựng dự thảo, lấy ý kiến, hoàn thiện và tổ chức thực hiện; khắc phục tư duy chỉ truyền thông sau khi chính sách đã được ban hành.
Mỗi chính sách đều hướng đến phục vụ Nhân dân, vì vậy quá trình truyền thông cũng phải lấy người dân làm trung tâm. Người dân không chỉ là đối tượng tiếp nhận thông tin mà còn là chủ thể tham gia góp ý, phản biện, giám sát và đồng hành với quá trình thực hiện chính sách. Truyền thông chính sách vì thế cần chuyển từ cách tiếp cận "thông báo" sang "giải thích", từ "cung cấp thông tin" sang "đối thoại", từ "thuyết phục" sang "đồng hành và tạo đồng thuận".
Thứ hai, phát huy vai trò nòng cốt của ngành Tuyên giáo và Dân vận trong xây dựng sự đồng thuận xã hội.
Ngành Tuyên giáo và Dân vận cần tiếp tục khẳng định vai trò trung tâm trong tham mưu định hướng truyền thông chính sách; chủ động dự báo tình hình tư tưởng, nắm chắc dư luận xã hội, tham mưu xử lý từ sớm, từ xa các vấn đề phát sinh. Chủ động phối hợp với các cơ quan chuyên môn để kịp thời tổ chức hoạt động cung cấp thông tin.
Cùng với đó, cần tiếp tục đổi mới hoạt động của hệ thống báo cáo viên, tuyên truyền viên, cộng tác viên dư luận xã hội theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại và linh hoạt hơn; xây dựng đội ngũ có khả năng truyền đạt chính sách bằng ngôn ngữ gần gũi, dễ hiểu, có sức thuyết phục và phù hợp với từng nhóm đối tượng.
Đồng thời, cần phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội, người có uy tín trong cộng đồng, đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ, nhà báo và các lực lượng xã hội khác trong lan tỏa thông tin tích cực, xây dựng môi trường thông tin lành mạnh và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Thứ ba, xây dựng hệ sinh thái truyền thông chính sách số đồng bộ, hiện đại.
Chuyển đổi số đang tạo ra những thay đổi căn bản trong phương thức truyền thông. Do đó, truyền thông chính sách cũng cần được tổ chức theo tư duy số, dựa trên nền tảng dữ liệu và công nghệ. Quảng Trị cần tiếp tục xây dựng hệ sinh thái truyền thông chính sách số thống nhất từ tỉnh đến cơ sở; tăng cường liên thông giữa các cơ quan Đảng, chính quyền, báo chí và hệ thống thông tin cơ sở; phát huy hiệu quả các nền tảng số, cổng thông tin điện tử, mạng xã hội chính thống và các sản phẩm truyền thông đa phương tiện như infographic, video ngắn, podcast, đồ họa dữ liệu, chuyên trang, chuyên mục chuyên sâu về chính sách.
Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), phân tích dữ liệu lớn (Big Data), công nghệ phân tích xu hướng thông tin và dư luận xã hội nhằm nâng cao khả năng dự báo, phát hiện sớm các vấn đề phát sinh, hỗ trợ quá trình hoạch định và điều hành truyền thông chính sách.
Thứ tư, xây dựng cơ chế gắn kết chặt chẽ giữa truyền thông chính sách với công tác điều tra, nắm bắt và phản ánh dư luận xã hội.
Một trong những điểm mới của truyền thông chính sách hiện đại là không chỉ truyền đạt thông tin mà còn phải tiếp nhận thông tin từ xã hội. Vì vậy, cần tiếp tục đổi mới phương pháp điều tra, khảo sát dư luận xã hội; mở rộng các kênh tiếp nhận ý kiến của người dân thông qua đối thoại trực tiếp, nền tảng số, mạng xã hội và các hình thức tương tác phù hợp. Mọi phản ánh, kiến nghị chính đáng của người dân cần được tổng hợp, phân tích và tham mưu kịp thời cho cấp ủy, chính quyền trong quá trình hoàn thiện và tổ chức thực hiện chính sách.
Bên cạnh đó, có thể nghiên cứu hình thành cơ chế "dư luận đồng hành cùng chính sách", trong đó công tác dư luận xã hội không chỉ dừng lại ở việc phản ánh tâm tư, nguyện vọng mà còn trở thành một kênh thông tin quan trọng để đánh giá tác động chính sách, đo lường mức độ đồng thuận và tham mưu điều chỉnh chính sách khi cần thiết.
Thứ năm, đổi mới phương pháp đánh giá hiệu quả truyền thông chính sách.
Hiệu quả truyền thông không nên chỉ được đo bằng số lượng tin, bài hay lượt tiếp cận trên các nền tảng số. Quan trọng hơn là phải đánh giá mức độ người dân hiểu đúng chính sách, mức độ đồng thuận xã hội, mức độ tham gia của người dân vào quá trình thực hiện và tác động thực chất của truyền thông đối với hiệu quả thực thi chính sách.
Đây cũng là yêu cầu đặt ra đối với ngành Tuyên giáo và Dân vận trong việc xây dựng các tiêu chí đánh giá khoa học, khách quan, lấy sự hài lòng của người dân và hiệu quả thực hiện chủ trương, chính sách làm thước đo quan trọng của truyền thông chính sách.
Nâng cao hiệu quả truyền thông chính sách vì thế không chỉ là đổi mới phương thức truyền thông mà sâu xa hơn là đổi mới tư duy lãnh đạo, phương thức quản trị và cách thức phục vụ Nhân dân. Nâng cao chất lượng truyền thông chính sách chính là nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước và sức mạnh đồng thuận của xã hội.
Đó không chỉ là yêu cầu trước mắt mà còn là nhiệm vụ lâu dài trong tiến trình xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân; góp phần hiện thực hóa mục tiêu phát triển nhanh, bền vững, xây dựng Quảng Trị trở thành cực tăng trưởng mới trong khu vực miền Trung, cùng cả nước vững bước trong kỷ nguyên phát triển mới.
Nguồn tin: Báo Quảng Trị