Bảo tồn nguồn gen cây dược liệu

M.Nhân |

 Việt Nam nói chung và tỉnh Quảng Trị nói riêng có nguồn tài nguyên cây dược liệu phong phú, nhiều loài có giá trị về y học, kinh tế và bảo tồn đa dạng sinh học. Tuy nhiên, việc khai thác quá mức, thu hái thiếu kiểm soát, suy giảm sinh cảnh và tác động của biến đổi khí hậu khiến nhiều loài dược liệu bản địa suy giảm, nguồn gen quý có nguy cơ mai một.

Trước thực tế trên, Trường đại học Quảng Bình đã thực hiện nhiệm vụ khoa học-công nghệ (KHCN): “Nghiên cứu tuyển chọn và phát triển một số loài cây dược liệu bản địa có giá trị góp phần bảo tồn nguồn gen và phát triển kinh tế cho cộng đồng dân tộc thiểu số (DTTS) tại vùng núi huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình cũ”.

Theo Tiến sĩ (TS) Lê Khánh Vũ, Chủ nhiệm nhiệm vụ, mục tiêu hướng đến của nhiệm vụ là điều tra, đánh giá nguồn tài nguyên dược liệu bản địa có giá trị tại rừng tự nhiên huyện Lệ Thủy cũ, từ đó, đề xuất các biện pháp bảo tồn nguồn gen và phát triển bền vững nguồn tài nguyên thực vật, góp phần phát triển kinh tế cho cộng đồng DTTS tại địa phương.

Để hoàn thành mục tiêu này, nhóm nghiên cứu đã tiến hành điều tra, thống kê nguồn tài nguyên dược liệu bản địa có giá trị tại rừng tự nhiên, như: Tên khoa học, tên địa phương, phân bố và giá trị sử dụng trong các bài thuốc dân tộc ở vùng núi huyện Lệ Thủy cũ (xã Lâm Thủy, xã Ngân Thủy, xã Kim Thủy cũ, nay là xã Kim Ngân).

Đồng thời, công tác tập huấn, đào tạo về kỹ thuật nhận dạng cây dược liệu bản địa từ rừng tự nhiên cho cộng đồng các bản được triển khai hiệu quả. Nhiệm vụ cũng đã nghiên cứu xây dựng mô hình trình diễn (1.000m2) loài cây dược liệu bản địa quý hiếm nhằm bảo tồn nguồn gen.

 
Quá trình nghiên cứu, nhóm thực hiện đã tiến hành các chuyến điều tra thực địa mang lại kết quả tích cực - Ảnh: NVCC 


Nhóm nghiên cứu triển khai linh hoạt, hiệu quả, đồng bộ các phương pháp, như: Thu thập, tổng hợp và kế thừa tài liệu; điều tra xã hội học và tri thức bản địa; điều tra thực địa, thu mẫu và định danh; xây dựng bản đồ, mô hình và xử lý số liệu.

Riêng với phương pháp điều tra thực địa, thu mẫu và định danh, nhóm nghiên cứu đã điều tra thành phần loài được thực hiện theo 14 tuyến, đại diện cho khu dân cư Bru-Vân Kiều, các dạng sinh cảnh, đai cao và khu vực có mức độ tác động khác nhau.

Một trong những điểm đáng chú ý của nhiệm vụ KHCN này chính là nhóm nghiên cứu đã thu thập và xử lý 56 tiêu bản thực vật khô, đại diện cho 56 loài, thuộc 52 chi, 42 họ, 29 bộ, 7 lớp và 5 ngành thực vật có mạch. Kết quả đối chiếu Sách Đỏ Việt Nam, Danh lục Đỏ IUCN và các quy định hiện hành xác định 35 loài thuộc 17 họ cần được quan tâm bảo tồn.

Một số loài có giá trị bảo tồn cao, gồm: Re hương, dó trầm, gù hương, lan gấm, cẩu tích, tắc kè đá và đẳng sâm. Nhóm họ phong lan có số loài nhiều nhất, tiếp đến là họ tiết dê và họ long não. Dữ liệu tên loài, sinh cảnh, tọa độ, bộ phận dùng, công dụng, hiện trạng khai thác và giá trị bảo tồn được chuẩn hóa để xây dựng 1 bản đồ phân bố cây dược liệu tại xã Kim Ngân tỉ lệ 1:50.000, tập trung vào các loài quý, hiếm, có nguy cơ suy giảm hoặc có triển vọng gây trồng.

Bên cạnh đó, một lớp tập huấn đã được tổ chức cho 20 người dân, đại diện cho các hộ Bru-Vân Kiều ở xã Kim Ngân. Nội dung tập trung vào nhận dạng các loài thường gặp, phân biệt loài dễ nhầm lẫn, nhận biết loài quý, hiếm, thu hái không tận diệt, sơ chế, bảo quản và bảo vệ nguồn cây trong tự nhiên...

“Từ kết quả điều tra tài nguyên, đánh giá tình trạng bảo tồn, xây dựng mô hình và tập huấn cộng đồng, nhiệm vụ đã đề xuất các giải pháp phù hợp với điều kiện thực tế của xã Kim Ngân. Các giải pháp tập trung vào quản lý khai thác cây dược liệu tự nhiên theo hướng bền vững; phát triển gây trồng một số loài phù hợp tại vùng đệm, vườn hộ và dưới tán rừng; tăng cường truyền thông, tập huấn và sự tham gia của cộng đồng; đồng thời, xác định trách nhiệm quản lý giữa cấp tỉnh và cấp xã trong mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. Nhiệm vụ cũng đề xuất cơ chế bàn giao, duy trì mô hình, cập nhật dữ liệu, huy động nguồn lực và bảo đảm quyền lợi của cộng đồng tham gia bảo tồn. Đây là cơ sở ban đầu để địa phương cụ thể hóa thành kế hoạch bảo tồn và phát triển cây dược liệu trong giai đoạn tiếp theo”, TS. Lê Khánh Vũ nhấn mạnh.

Nguồn tin: Báo Quảng Trị

Thúc đẩy phong trào nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi

Mai Lâm |

Tỉnh Quảng Trị hiện có hơn 52.000 hộ nông dân sản xuất, kinh doanh (SXKD) giỏi các cấp. Nếu được đào tạo bài bản, đây không chỉ là những điển hình làm giàu cho riêng mình, mà sẽ trở thành lực lượng hạt nhân, những “giảng viên chân đất” dẫn dắt cộng đồng cùng thay đổi tư duy, liên kết chuỗi giá trị và thúc đẩy kinh tế nông thôn phát triển bền vững.

Nông dân Quảng Trị tiếp cận gần 30 tỉ đồng vốn tín dụng ưu đãi để phát triển sản xuất

Thanh Trúc |

 Trong 4 tháng đầu năm 2026, Quỹ Hỗ trợ nông dân tỉnh đã thực hiện giải ngân 29,8 tỉ đồng, hỗ trợ 327 hộ gia đình triển khai 54 dự án sản xuất.

Tiếp sức cho nông dân làm giàu

T.Tr |

 Không chỉ là “cánh tay nối dài” giúp hội viên tiếp cận nguồn vốn ưu đãi, Quỹ hỗ trợ nông dân (HTND) tỉnh còn khẳng định vai trò dẫn dắt, thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Đây chính là kênh tín dụng hiệu quả để tập hợp nông dân, nâng cao vị thế của tổ chức hội trong hành trình hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn.

Liên kết trồng cây dược liệu an xoa ở Cam Lộ: Người dân lao đao vì doanh nghiệp nợ thanh toán kéo dài

Lê Trường |

 Mô hình trồng cây dược liệu an xoa từng được kỳ vọng mở ra hướng phát triển mới cho người dân thuộc các địa phương huyện Cam Lộ. (cũ), nay là xã Cam Lộ. Tuy nhiên, việc “đứt gãy” liên kết, doanh nghiệp dừng thu mua và nợ tiền sản phẩm trong thời gian dài khiến người dân lao đao, lâm vào cảnh nợ nần và loay hoay tìm hướng sản xuất mới.