Giữa mùa hoa cà phê thứ 100

Yên Mã Sơn |

Khe Sanh, bằng một cách rất riêng, đã giữ lại dấu chân những người biết yêu đất và tin vào ngày mai.

1. Đầu mùa hè, đứng trên đồi cao nhìn về Khe Sanh, tôi như thấy cả bầu trời nghiêng xuống, lặng lẽ phủ lên những triền đất đỏ một màu trắng mỏng manh mà bền bỉ: Hoa cà phê. Thứ hoa trắng nhỏ như chòm mây rơi, thơm thanh khiết như giọt sương đầu ngày. Người ta nói hoa cà phê chỉ nở trong vài hôm ngắn ngủi nhưng cái đẹp của nó – cái đẹp của một thế kỷ hiện diện trên cao nguyên Khe Sanh – thì ở lại trong ký ức của đất trời lâu hơn thế. Trăm năm hoa trắng, trăm năm hương đượm.

Mùa hoa cà phê ở Khe Sanh. Ảnh: Công Điền
Mùa hoa cà phê ở Khe Sanh. Ảnh: Huy Võ

Trong bâng khuâng của buổi chiều bảng lảng, gió từ thung lũng thổi lên mang theo mùi hoa và đất đỏ mới trở mình sau mưa, tôi chợt nhớ đến những bước chân bền bỉ của người đã gieo hạt cà phê đầu tiên – E. Poilane. Tên ông giờ đã lẫn trong những câu chuyện nửa quên nửa nhớ của người già xứ này, nhưng những gì ông để lại thì vẫn hiển hiện trước mắt, xanh biếc một màu.

Ngày ấy, khi Khe Sanh còn là vùng đất hoang vu, rừng già bao phủ, Poilane đã đi dọc những triền đồi ẩm ướt, lắng nghe tiếng đất vọng lên từ lòng núi. Có lẽ ông đã nhìn thấy trong đất đỏ nơi đây một lời hứa, một mạch sống ẩn sâu, để rồi gom góp hết nhiệt thành của một kẻ si tình với thiên nhiên mà mang về và gieo xuống những hạt cà phê đầu tiên. Một số người từng là công nhân của đồn điền cà phê ở Khe Sanh kể rằng Poilane trầm tĩnh, ít nói, nhưng ánh mắt thì luôn rực sáng mỗi khi nhìn vào những cây non đầu mùa. Ông chăm từng gốc cây như chăm một sinh linh bé nhỏ, chống lại gió dữ, nắng gắt và cả cái lạnh cắt da của Khe Sanh.

Đã có một thời gian, người dân ở xứ này gọi đường từ ngã ba tượng đài chiến thắng Khe Sanh vào Hướng Tân là đường Poilane.
Đã có một thời gian, người dân ở xứ này gọi đường từ ngã ba tượng đài chiến thắng Khe Sanh vào Hướng Tân là đường Poilane. 

Và khi những đồi cà phê bén rễ, phủ đầy một màu xanh hy vọng, người dân xứ này đã gọi con đường từ tượng đài chiến thắng Khe Sanh đi vào Hướng Tân là “đường Poilane”. Không phải để vinh danh một người ngoại quốc mà để ghi nhớ ân tình của một kẻ đã chọn ở lại, đã chọn thuộc về mảnh đất này bằng tất cả trái tim. Trong những trang nhật ký mộc mạc của mình như Poilane đã viết: “Tôi không phải người Pháp, tôi là người Đông Dương”. Một lời tự nhận giản dị mà sâu đậm, như tiếng thở dài nhẹ của gió chiều vắt ngang sườn đồi.

Hôm nay, giữa mùa hoa thứ 100, khi hoa trắng nở ngập trời và hương cà phê lan mềm theo từng lằn gió, tôi biết rằng Khe Sanh không chỉ có sương mù và những câu chuyện chiến tranh. Nơi đây còn có một lịch sử khác – lịch sử của những bàn tay khai mở, của những giấc mơ xanh ngút và của một người đã gửi cả cuộc đời mình vào từng gốc cà phê đang âm thầm tỏa bóng dưới trời cao nguyên.

2. Lặng im bên những giọt đắng trăm năm ở một triền đồi không tên, tôi lắng nghe phố sá trở mình bằng những công trình mới, bằng dòng người sôi nổi ngược xuôi. Khe Sanh bây giờ nhiều khách Tây hơn trước. Người ta bảo rằng họ đến để cảm nhận cái thanh bình tại nơi từng được gọi là khốc liệt nhất hành tinh về chiến tranh; họ đến, pha cà phê và nói chuyện hòa bình, đổi mới…

 
 Từ lâu, cà phê là cây trồng chủ lực của đồng bào miền núi. Ảnh: Huy Võ

Và giữa cái nhộn nhịp ấy, tôi chợt nhận ra điều lạ lùng: những người từ rất xa lại lặng lẽ tìm thấy sự yên tĩnh nơi một cao nguyên từng đầy tiếng súng, còn chúng tôi – những kẻ ở gần – đôi khi lại quên rằng đất này đã biết hồi sinh bằng chính hơi thở của mình. Người Tây ngồi trên hè phố, nâng ly cà phê thơm sâu mà nói về tự do như thể đang nâng niu một kỷ vật. Họ không biết hết những câu chuyện dưới đáy cốc, về những mùa mưa xói mòn đất đỏ, hay những đôi chân trần từng lội qua pháo kích để chăm từng luống cà phê còn non. Nhưng bằng cách nào đó, họ vẫn cảm được sự trân trọng lặng lẽ của đất này – một sự trân trọng trộn giữa đau thương và hy vọng.

Có lần, tôi nghe một du khách nói với bạn mình rằng ở Khe Sanh, người ta có thể nhìn thấy tương lai hiện lên từ những điều quá khứ để lại. Tôi không biết câu nói ấy đúng đến đâu, nhưng khi nhìn hoa cà phê nở trắng cả trời và những dự án mới đang cựa mình nơi phố núi, tôi tin rằng tương lai ấy không phải điều mơ hồ. Nó là sự tiếp nối, như cách những gốc cà phê trăm năm vẫn ra hoa mỗi độ đầu hè, như cách con người nơi đây đi qua chiến tranh bằng đôi tay chai và trái tim mềm.

Khe Sanh đổi thay từng ngày. Nhưng giữa cái đổi thay ấy, vẫn có những buổi chiều gió từ phía Voi Mẹp thổi về, mang mùi đất ẩm, khiến lòng người dịu xuống. Vẫn có những quán nhỏ ven đường, nơi một cụ già yêu nghề vẫn pha cà phê theo cách của mấy chục năm trước, chậm rãi như thể thời gian chẳng bao giờ vội. Vẫn có những đứa trẻ chạy tung tăng dưới bóng những cây cà phê già tưởng như đã nghe hết cả trăm mùa nắng gió.

Và tôi hiểu, dù phố xá mở rộng, dù người phương xa tìm về ngày một nhiều, Khe Sanh vẫn giữ cho riêng mình một nhịp thở. Đó là nhịp thở của cao nguyên biết lưu giữ ký ức trong từng thớ đất. Nhịp thở nhắc người ta rằng hòa bình là một hành trình dài, được vun bằng mồ hôi, nước mắt và niềm tin của những con người âm thầm mà bền bỉ.

Trong khoảnh khắc đó, tôi nâng ly cà phê của mình lên. Giọt đắng nơi đầu lưỡi như chạm vào điều gì sâu thẳm: quá khứ không ngủ quên, và tương lai luôn nở hoa từ những phần đất đã từng trải qua đau thương. Khe Sanh, bằng cách rất riêng của mình, nhắc tôi nhớ rằng giữa những biến động, vẫn có những vùng đất biết dịu dàng ôm lấy thời gian để lớn lên, để sáng bừng, để kể lại câu chuyện của mình cho bất cứ ai chịu ngồi xuống và lắng nghe.

3. Thời gian trôi, những câu chuyện về Poilane càng được kể lại với sự trìu mến như nói về một người thân đã rời xa nhưng vẫn còn đâu đó quanh những triền đồi. Mỗi mùa hoa cà phê nở trắng, người ta lại nhắc tên ông như thể gọi một vì sao cũ vẫn đang âm thầm tỏa sáng trên bầu trời cao nguyên. Và tôi tin, nếu có linh hồn Poilane đâu đó, hẳn ông sẽ mỉm cười khi thấy đất này đã trở nên trù phú, thanh bình trong bàn tay của những thế hệ nối tiếp.

 
E. Poilane- người đưa cây cà phê vào trồng ở Khe Sanh vào năm 1926. 

Bên ly cà phê đậm hương đất đỏ, họ nói về một Poilane của Khe Sanh như một Yesin của Đà Lạt. Đó là những người yêu thiên nhiên đến cùng cực và tìm cho mình một bến đổ để tận hiến đến hơi thở cuối cùng.

Cũng như Yesin, Poilane cũng là một nhà khám phá. Poilane gặp Khe Sanh và vỡ òa sung sướng rồi sống trọn vẹn với đất này. Để khi mất, thi thể ông cũng nằm ở Khe Sanh để lắng nghe thớ đất thì thẩm về một ngày những cây ăn quả, cây cà phê mình gieo trồng trở thành cây tạo kế sinh nhai của người bản xứ. Người ta nói cần có một tượng đài, một công trình tưởng niệm về Poilane ở Khe Sanh. Nhưng theo tôi, những vị khách yêu Khe Sanh, đến Khe Sanh nhấm nháp ly cà phê đều nghĩ về người gieo hạt đầu tiên. Và có lẽ đó cũng là một tượng đài trong lòng người ái mộ.

Đứng giữa những đồi cà phê bạt ngàn, đôi khi tôi có cảm giác người đàn ông ấy chưa bao giờ rời khỏi Khe Sanh. Hình như ông vẫn ẩn hiện đâu đó trong gió chiều, trong tiếng đất thở sau mỗi cơn mưa rào, trong mùi thơm ngai ngái của đất đỏ và trong thứ vị đắng ngọt khó quên của hạt cà phê xứ này. Người bản địa có thể không còn nhớ rõ gương mặt ông, nhưng hễ nhắc đến Poilane, ai cũng thuộc nằm lòng câu chuyện về một kẻ lữ hành si tình, đã trót đem cả cuộc đời gửi gắm vào đất.

Và tôi, kẻ lữ thứ đứng giữa chiều, lắng nghe tiếng hoa nở, bỗng thấy lòng mình chùng xuống một niềm tri ân khó gọi thành tên. Khe Sanh, bằng một cách rất riêng, đã giữ lại dấu chân những người biết yêu đất và tin vào ngày mai.

TAGS

Nghe trong cà phê Khe Sanh

Bội Nhiên |

Và với cà phê Khe Sanh, ở bất cứ chỗ nào trên miền biên viễn Hướng Hóa cũng nghe nói về quá khứ, hiện tại cùng tương lai...

Để hiểu đúng câu Kiều về chữ “tâm” của Nguyễn Du

Nguyễn Hoàn |

Có một câu Kiều không dùng đến điển tích, không cần phải chú giải mà ai cũng dễ dàng hiểu được, đó là câu: “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”. 

Hương kiệu ngày xuân

Diệp Đồng |

Tháng chạp, khi những cơn gió xuân chớm đuổi nhau trên đồng cũng là lúc vụ kiệu vào mùa thu hoạch. Trưa nắng, cánh đồng thôn Võ Thuận, xã Hoàn Lão lao xao tiếng nói cười. Mồ hôi ướt đẫm lưng áo, đôi bàn tay lấm đất nhưng ai cũng vui, bởi lẽ cây kiệu luôn ổn định và được giá. Vui hơn nữa khi thương lái đã “đặt cọc” từ sớm. Thu hoạch xong, những bó kiệu sẽ nhanh chóng đổi thành khoản tiền đủ để sắm sửa Tết, đủ để đóng học phí cho con, đủ để khởi đầu cho những mùa vụ mới.

Thời gian trôi qua kẽ tay

Diệu Hương |

Mỗi năm, khi tờ lịch cuối cùng rơi xuống, tôi thấy mình giống như một người bộ hành vừa đi qua một dặm dài đầy đá sỏi và gió bụi, bỗng nhiên chỉ muốn dừng chân bên một vệ đường nào đó, tháo đôi giày đã cũ, phủi đi lớp bụi mờ bám trên gấu quần và ngồi xuống nhìn ngắm lại quãng đường đã đi qua. Khi đã đủ đầy va vấp cuộc đời, người ta mới chợt nhận ra thời gian không trôi đi ồn ào, nó len lỏi như cát qua kẽ tay, dù cố nắm chặt đến đâu vẫn âm thầm tuột mất, mang theo cả những niềm vui lấp lánh và những nỗi buồn chưa kịp cũ.