Ô Lâu thương nhớ!

Phan Tân Lâm |

Cùng bắt nguồn từ dãy Trường Sơn, nhưng sông Ô Lâu không chảy thẳng ra biển như Bến Hải, Hiếu Giang hay Thạch Hãn, mà lại vòng về phía nam rồi đổ nước vào phá Tam Giang, trở thành một phần ranh giới tự nhiên giữa tỉnh Quảng Trị và thành phố Huế.

Trong gần hai mươi năm chiến tranh chống Mỹ,  vùng rừng núi phía thượng nguồn Ô Lâu là chiến trường ác liệt gắn với những địa danh như địa đạo Hà Đông, bệnh viện Cà Mau, cứ điểm 367 còn gọi là đồi McNamara, dãy Chiêm Giòng, khe Ba Lá, đỉnh Dốc Miếu…

Những đỉnh núi, những dòng suối đã hằn sâu trong ký ức của những người lính đặc công K10 Quảng Trị và Trung đoàn 812 của một thời khói lửa… Còn với chúng tôi, thượng nguồn Ô Lâu là kỷ niệm thật khó quên về những ngày băng rừng vượt suối trong mưa gió, đồng hành cùng những người lính Quảng Trị và các cựu chiến binh đi tìm đồng đội…

Để có thể đặt chân lên vùng đất chiến trường xưa nơi thượng nguồn Ô Lâu, chúng tôi thường sử dụng xe gắn máy kết hợp với đi bộ, nhưng có những chuyến đi diễn ra vào mùa mưa nên phải cậy nhờ đến loại xe hai cầu chuyên chở gỗ rừng trồng của người dân. Lối đi quen thuộc là con đường đất đầy ổ voi mà người dân địa phương thường gọi là “đường tăng”.

Gần 60 năm về trước, trong chiến tranh, quân đội Mỹ đã mở một tuyến đường về phía bắc dòng Ô Lâu để phục vụ xe tăng và phương tiện cơ giới di chuyển từ Quốc lộ 1A lên các cứ điểm hỏa lực như 367, 235, 275 nhằm khống chế vùng đồng bằng Hải Lăng về đến biển.

Sau ngày đất nước hòa bình, con đường tăng đã trở thành đường dân sinh để người dân Hải Lăng đi khai phá miền Tây. Cách chân cao điểm 367 gần một cây số, vì đường quá dốc, hai bên là vực sâu nên dù là xe 2 cầu chuyên chạy đường rừng cũng phải dừng lại. Mọi người vội vã  chia nhau đồ đạc rồi lặng lẽ bước tiếp.

 
Mưa trên dòng Ô Lâu - Ảnh: T.L 
 


Tháng 8, núi rừng Quảng Trị bắt đầu là mùa mưa, lác đác những cánh hoa sim cuối mùa nhạt nhòa khiến lòng người cứ bâng khuâng câu hát: "Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết..."

Sông Ô Lâu có hai chi lưu chính là Ô Lâu hữu trạch và tả trạch, đều bắt nguồn từ những dãy núi thuộc Khu dự trữ thiên nhiên Phong Điền của TP. Huế. Riêng dòng Ô Lâu tả trạch, hay còn gọi là sông Thác Ma, còn nhận thêm nguồn nước từ các dãy núi Ba Lê, Chiêm Giòng thuộc về Quảng Trị. Nhánh sông này chảy qua vùng đất Nam Hải Lăng, đến làng Mỹ Chánh, Lương Điền (Quảng Trị) và Phước Tích (TP. Huế) thì hợp lưu cùng dòng Ô Lâu hữu trạch để chảy về phá Tam Giang.

Vòng qua chân cao điểm 367 sương giăng kín lối, dù trời đang mưa nhưng mọi người leo dốc vẫn đổ mồ hôi. Bước đi dưới mưa trên những dãy núi có bình độ 700 mét không hề thấy bóng dáng một dòng suối. Khoảng 4 giờ chiều, mây đen bất chợt giăng kín trời như báo hiệu sẽ có mưa lớn. Mọi người quyết định dừng chân, điểm dựng trại là khoảng đất trũng xuống tương đối bằng phẳng nằm giữa hai ngọn núi không tên.

Chúng tôi lặng lẽ mỗi người một việc, từ lấy củi, tìm nguồn nước đến nhóm lửa; không khí nghiêm túc và khẩn trương chẳng khác gì cuộc sống người lính trong chiến tranh. Lần tìm theo hai con suối nhưng đã cạn dòng, nên chúng tôi đành phải lấy nước mưa đọng lại từ hố pháo để nấu ăn. Trong màn mưa giăng mắc giữa đại ngàn, đêm xuống thật nhanh, đêm dài không ngủ!

 
 Ngã ba sông Ô Lâu (đoạn hợp lưu Tả Trạch và Hữu Trạch) tại cuối làng Mỹ Chánh: Bên phải là làng cổ Phước Tích (TP. Huế), bên trái là làng Lương Điền (Quảng Trị) - Ảnh: T.L
 


Hôm sau chúng tôi tiến dần lên “Đồi nước mắm”. Sở dĩ gọi là Đồi nước mắm vì sau chiến tranh những người đi rừng tình cờ tìm thấy một thùng nước mắm cả trăm lít của bộ đội còn để lại. Len lỏi giữa rừng giang, men theo từng con suối cạn, chúng tôi bắt gặp nhiều mỏm đồi vẫn còn nguyên hầm hào, công sự trong chiến tranh và cả những huyệt mộ đào sẵn…Vẫn còn đó những di vật là hành trang của người lính. Có người giữ mãi trên tay một phần chiếc dép cao su; có người thì thầm: “Dép này cỡ chân con gái!”.

Đã hơn nửa thế kỷ nhưng những cây gỗ thông tẩm dầu từ bên kia đại dương mà người Mỹ đã cắm xuống các cao điểm nơi miền Tây Hải Lăng vẫn còn ứa nhựa vào mùa hạ. Những chiếc đinh vẫn chưa bị hoen gỉ cắm sâu vào những trụ gỗ như đóng chặt lời nguyền chiến tranh là mất mát hy sinh, là người còn sống vẫn mãi đi tìm đồng đội suốt đằng đẵng thời gian theo dặm dài đất nước.

Miền Tây Hải Lăng nơi thượng nguồn Ô Lâu quanh năm sương giăng mây phủ hình như vẫn còn cất giấu bao điều bí ẩn. Những bản làng với vài nóc nhà của đồng bào miền núi như trong truyện kể của những người đi rừng có lẽ đã chuyển ra thung lũng Ba Lòng, hoặc ngược về phía tây đỉnh Dốc Miếu vời vợi. Bên kia núi giờ đây là bản làng trù phú đông vui của đồng bào Vân Kiều, Pa Kô thuộc về các xã La Lay, Tà Rụt và Đakrông.

Trên những điểm cao gió cứ thổi suốt ngày đêm, những vạt rừng lưng chừng núi gần như bị vặt trụi lá, phần chóp của đỉnh núi vẫn hoang vu xơ xác, cây rừng chưa thể hồi sinh do hậu quả từ chất hóa học và bom đạn trong chiến tranh. Đi xuống bình độ gần 300m, chúng tôi tình cờ bắt gặp một nhóm người đi tìm mộ liệt sĩ. Những cánh hoa mang theo cứ rơi rụng trên cung đường hiểm trở, nhưng lòng người thì vẫn sắt son, dẫu biết rằng niềm hy vọng thật mong manh giữa miền xa thẳm.

Rời miền Tây Hải Lăng, chúng tôi xuôi về Mỹ Chánh, cuộc sống của ngư phủ trên dòng Ô Lâu từ bao đời vẫn đầy vơi theo con nước. Nối đôi bờ sông là tuyến Quốc lộ 1A, dòng người luôn hối hả ngược xuôi. Nhưng cũng có người như ngược thời gian để mong tìm đến với nhau trong tình yêu thương vĩnh cửu. Lặng lẽ thắp một tuần nhang, thả xuống dòng nước một bè hoa và đốt lên một ngọn nến nhỏ, đấy là cái cách mà những người lính Sư đoàn 304 năm xưa cùng thân nhân liệt sĩ và người dân đôi bờ trò chuyện tâm tình với những người đã khuất: “Cuộc sống của chúng tôi chưa bao giờ vắng bóng các anh!”.

Trong khói hương rưng rưng niềm tưởng niệm, hơn nửa thế kỷ đã trôi qua trên bến sông này. Trong những ngày tháng chiến tranh dữ dội ấy, có lẽ không ai biết được có bao nhiêu người lính trẻ đã vĩnh viễn nằm lại với dòng sông, với núi đồi miền Tây Hải Lăng. Nhưng bài ca về tình yêu và khát vọng hòa bình vẫn sống mãi với thời gian, vẫn đang cháy sáng như những ngọn nến trên những bè hoa và trong ánh mắt vọng tưởng của những người đang sống.

“Xin nhờ núi, núi hãy thắp vòng tang trắng

Xin nhờ sông, sông hãy lặn lờ trôi.

Xin hỏi anh, anh nằm ở nơi đâu?

Đồng đội ơi, xin được rước anh về!”

Lời khấn cầu của người lính già Bùi Xuân Chủ cũng là ước nguyện của những người lính từng đứng trong hàng ngũ của Sư đoàn 304 cứ mênh mang trên mặt nước Ô Lâu như để gửi về một nơi xa xôi nào đó.

Mỗi dòng sông hình như đều mang trong mình những câu chuyện riêng về lịch sử, về tình yêu và cả những buồn vui nhân thế. Với Quảng Trị, mỗi dòng sông đều đã từng nặng đầy máu và nước mắt, đều là những khúc ca bi tráng về sự mất mát hy sinh và cả những chiến công như huyền thoại của con người.

Nguồn tin: Báo Quảng Trị

Những người mẹ, người chị... phía Nam sông Thạch Hãn

Ngô Thanh Long |

 Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, nguyên Trung đoàn trưởng Trung đoàn 27-Triệu Hải khi trở lại chiến trường xưa Quảng Trị tham gia chương trình “Ngọn nến tri ân” lần thứ 5, gặp gỡ người dân 2 huyện Triệu Phong, Hải Lăng trước đây không khỏi bồi hồi, xúc động. Ông chia sẻ: “Chúng tôi xem Quảng Trị như quê hương thứ 2 của mình. Nên còn sức khỏe là chúng tôi tiếp tục trở về. Trở về để tri ân đồng chí, đồng đội mình. Về để thăm bà con, các o, các mẹ, các anh chị ngày xưa bao bọc, chở che những người lính Trung đoàn 27 qua từng trận đánh”.

Vĩnh Định, dòng sông không chỉ có phù sa

Trần Tú |

 Vĩnh Định là một con sông thuộc hệ chi lưu sông Thạch Hãn, chảy qua nhiều làng quê vùng đồng bằng Nam Quảng Trị. Dưới triều Nguyễn, dòng sông được đào và khơi thông, trở thành tuyến giao thông thủy nội địa huyết mạch, giữ vai trò quan trọng trong kết nối với Kinh sư-Kinh đô Huế; đồng thời ghi dấu một thành tựu nổi bật trong công cuộc trị thủy của nhà Nguyễn. Giá trị đặc biệt ấy được khẳng định khi sông Vĩnh Định được khắc trên Thuần Đỉnh. Cùng với những dấu tích còn lưu lại ven sông và văn bia khắc thơ ngự chế của hai vị vua Minh Mạng, Thiệu Trị, tất cả càng minh chứng cho ý nghĩa to lớn của việc đào sông Vĩnh Định.

Thương nhớ một đời sông!

Phan Tân Lâm |

Dẫu bạn và tôi chưa đi hết mọi miền của Tổ quốc, nhưng cũng có thể biết được rằng đất nước mình là xứ sở của những dòng sông. Mỗi dòng sông chảy qua những vùng đất khác nhau và mang một vẻ đẹp riêng. Có những dòng sông còn mãi âm vang bao chiến công lẫy lừng trong lịch sử chống ngoại xâm, gắn liền với vận mệnh của cả dân tộc. Những dòng sông ấy chảy tràn qua năm tháng, đi vào thi ca, nhạc, họa, cứ mãi thao thức, mãi ngân vang như những bản trường ca nối dài bất tận…

Cảnh báo môi trường từ sông Vĩnh Định

An Xuân |

Sông Vĩnh Định được xem là con sông đào ở phía Nam tỉnh Quảng Trị, hình thành từ thời nhà Nguyễn, có độ dài trên 25km, chảy qua địa bàn hai huyện Hải Lăng và Triệu Phong trước đây. Rất nhiều công sức, tiền bạc đã đầu tư để làm nên con sông này. Khi hoàn thành sông đào Vĩnh Định, nhà Nguyễn đã cho khắc tên con sông vào Cửu đỉnh, tượng trưng cho vương triều trong Đại Nội của kinh thành Huế.