Mở đường kinh tế tư nhân phát triển

Quốc Việt |

Nghị quyết số 68-NQ/TW (Nghị quyết 68) của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân đang mở ra một giai đoạn mới trong tư duy và hành động phát triển kinh tế, khi khu vực tư nhân lần đầu tiên được xác định là “động lực quan trọng nhất” của nền kinh tế. Tại Quảng Trị, hành trình đưa Nghị quyết 68 vào cuộc sống đặt ra yêu cầu đẩy mạnh cải cách hành chính, thúc đẩy mạnh mẽ chuyển đổi số, thu hẹp khoảng cách giữa chính sách và thực tiễn, để kinh tế tư nhân thực sự bứt phá, đóng vai trò dẫn dắt cho sự tăng trưởng của tỉnh.

Đưa nghị quyết vào cuộc sống

Điểm đột phá của nghị quyết là đánh giá đúng vai trò quan trọng của kinh tế tư nhân đối với phát triển đất nước. Nghị quyết nêu rõ mục tiêu cho từng thời kỳ, chỉ ra các nhiệm vụ, giải pháp tổng quát, cụ thể để phát triển kinh tế tư nhân. Đây là chủ trương đúng đắn và khi được triển khai, đi vào cuộc sống sẽ tạo nền tảng vững chắc để doanh nghiệp (DN) tư nhân nói chung và DN tư nhân Quảng Trị nói riêng tiếp tục đổi mới, khẳng định năng lực, bản lĩnh với chiến lược sản xuất, kinh doanh bài bản, hiệu quả, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế của tỉnh.

Ngay sau khi Nghị quyết 68 được ban hành, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã chỉ đạo tổ chức quán triệt, học tập sâu rộng trong toàn Đảng bộ, hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và Nhân dân, gắn với việc xây dựng chương trình hành động để cụ thể hóa các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp của nghị quyết phù hợp với điều kiện thực tiễn của tỉnh sau sáp nhập.

Tỉnh phấn đấu đến năm 2030, có 14.750 DN đang hoạt động; tốc độ tăng trưởng bình quân của kinh tế tư nhân đạt khoảng 10-12%/năm, cao hơn tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế; đóng góp khoảng 55-58% GRDP và khoảng 35-40% tổng thu ngân sách nhà nước địa phương, giải quyết việc làm cho khoảng 84-85% tổng số lao động; năng suất lao động tăng bình quân khoảng 8,5-9,5%/năm.

 
 Các doanh nghiệp đẩy mạnh hoạt động sản xuất, kinh doanh, đóng góp tích cực vào sự tăng trưởng của tỉnh - Ảnh: Q.V
 


Tỉnh cũng ứng dụng triệt để chuyển đổi số nhằm cắt giảm tối đa thời gian xử lý thủ tục hành chính, chi phí tuân thủ pháp luật và điều kiện kinh doanh trong các quy định về gia nhập, rút lui khỏi thị trường, đất đai, quy hoạch, đầu tư, xây dựng, thuế, hải quan, bảo hiểm, sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn, quy chuẩn...; đồng thời, triển khai cung cấp dịch vụ công cho DN không phụ thuộc vào địa giới hành chính.

Trong năm 2025-2026, bảo đảm hoàn thành các mục tiêu và lộ trình quy định tại Nghị quyết số 66/NQ-CP, ngày 26/3/2025 của Chính phủ về Chương trình cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Chỉ tính riêng trong quý III/2026, toàn tỉnh đã giải quyết 68.673 hồ sơ thủ tục hành chính. Trong số 71.374 hồ sơ mới tiếp nhận, có 65.828 hồ sơ nộp trực tuyến, chiếm 92,23%. Tại Trung tâm Phục vụ hành chính công tỉnh, tỉ lệ hồ sơ giải quyết đúng và trước hạn đạt tới 98,73%, riêng lĩnh vực đăng ký doanh nghiệp mới đạt tỉ lệ xử lý trực tuyến 100%. Các xã, phường cũng duy trì tỉ lệ giải quyết hồ sơ trước hạn đạt 98,06%.

Đặc biệt, tỉnh đã chỉ đạo cơ quan đăng ký kinh doanh của tỉnh định kỳ chủ động triển khai phối hợp với các cơ quan chuyên môn thực hiện rà soát và báo cáo UBND tỉnh về kết quả rà soát các điều kiện kinh doanh đối với các danh mục ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện.

Bên cạnh đó, xây dựng, công bố trên trang, cổng thông tin của các cơ quan, đơn vị công cụ, giải pháp cảnh báo sớm cho DN, hộ kinh doanh về các nguy cơ vi phạm pháp luật trên cơ sở tích hợp dữ liệu quản lý, cảnh báo từ các cơ quan quản lý nhà nước; đồng thời xây dựng chuyên mục riêng tại cổng thông tin của đơn vị để tiếp thu, giải quyết vướng mắc, phản ánh, kiến nghị của người dân, DN trong hoạt động sản xuất kinh doanh thuộc địa bàn quản lý.

Theo Giám đốc Sở Tài chính Nguyễn Xuân Đạt, sau hơn 1 năm triển khai Nghị quyết số 68-NQ/TW trên địa bàn tỉnh, bước đầu đã có những kết quả tích cực. Đầu tiên là công tác tuyên truyền được thực hiện đồng bộ hơn; nhận thức và hành động của cán bộ, DN và người dân có sự chuyển biến rõ rệt; số hộ kinh doanh và DN thành lập mới tăng lên, nhiều DN tạm ngừng cũng đã quay trở lại hoạt động.

Đặc biệt, nhiều DN đã mạnh dạn đề xuất các dự án lớn, quan trọng. Các sở, ban ngành, địa phương đã phối hợp với nhau chặt chẽ hơn trong giải quyết khó khăn, vướng mắc của DN… Những kết quả này cho thấy nghị quyết đang thực sự tạo động lực để kinh tế tư nhân của tỉnh phát triển mạnh mẽ hơn trong thời gian tới.

Doanh nghiệp kỳ vọng bứt phá

Trong 9 tháng năm 2026, toàn tỉnh có 1.113 DN được thành lập mới với tổng số vốn đăng ký là 11.974 tỉ đồng (10,76 tỉ đồng/doanh nghiệp), 436 DN giải thể (337 DN giải thể tự nguyện, 99 DN giải thể do bị thu hồi). Đến nay, toàn tỉnh có 10.639 DN đang hoạt động với tổng số vốn đăng ký là 208.743 tỉ đồng, bình quân 19,62 tỉ đồng/DN.

Công ty CP Tổng Công ty Sông Gianh là DN tiên phong trong sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh, phân hỗn hợp NPK, phân bón lá và công nghệ urê hóa lỏng; sở hữu mạng lưới gồm 13 chi nhánh, hàng nghìn nhà phân phối trải rộng khắp cả nước. Với thương hiệu trên 30 năm, Tổng Công ty đã vinh dự 4 lần liên tiếp đạt danh hiệu Thương hiệu Quốc gia Việt Nam (mới nhất là năm 2026) cho sản phẩm phân bón hữu cơ vi sinh; được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động trong thời kỳ đổi mới.

Ông Trần Trung Thành, Phó Tổng Giám đốc Công ty CP Tổng Công ty Sông Gianh cho biết, trong quá trình hoạt động và phát triển trên địa bàn, DN đã nhận được sự đồng hành, phối hợp và hỗ trợ từ các sở, ban, ngành và chính quyền địa phương để triển khai các mô hình canh tác tiên tiến, xây dựng thương hiệu, đưa sản phẩm phân bón hữu cơ vi sinh tham gia các hoạt động xúc tiến thương mại, đồng thời tạo môi trường pháp lý thuận lợi, hỗ trợ kết nối thị trường để các chi nhánh và đơn vị trực thuộc hoạt động ổn định trong lĩnh vực sản xuất phân bón và phục vụ phát triển nông nghiệp địa phương.

“DN kỳ vọng và mong muốn tỉnh Quảng Trị tiếp tục cụ thể hóa Nghị quyết số 68 để tạo môi trường kinh doanh minh bạch, thuận lợi cho DN tư nhân, đặc biệt là trong lĩnh vực nông nghiệp sạch và hữu cơ. Trong đó có các giải pháp tháo gỡ các “điểm nghẽn” về đất đai và thủ tục đầu tư theo đúng tinh thần “lấy DN làm trung tâm”; hỗ trợ DN tiếp cận nguồn lực tài chính và tín dụng và có chính sách hỗ trợ DN tiên phong trong lĩnh vực nông nghiệp xanh.

Luồng sinh khí mới từ Nghị quyết số 68 mang đến nhiều kỳ vọng cho DN về sự gắn kết giữa DN và địa phương; bảo vệ quyền lợi và giảm rủi ro pháp lý, tạo tâm lý an tâm cho doanh nhân dám nghĩ, dám làm và đầu tư lâu dài tại quê hương”, ông Trần Trung Thành bày tỏ.

Là một trong những DN đang hoạt động tại Quảng Trị trong lĩnh vực khai thác cảng biển, dự án Bến cảng tổng hợp quốc tế Hòn La của Công ty CP Cảng Hòn La sau hơn 1 năm thi công đã đưa vào khai thác. Đến nay, sản lượng hàng hóa thông qua cảng đạt khoảng 800.000 tấn. Kết quả này thể hiện sự nỗ lực của DN tư nhân trong việc phát huy hiệu quả đầu tư, đóng góp vào tăng trưởng kinh tế của địa phương.

Ông Phùng Văn Phát, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty CP Cảng Hòn La cho biết: “Trong quá trình thi công và khai thác cảng, DN luôn nhận được sự đồng hành, chia sẻ, hỗ trợ đầy trách nhiệm của các sở, ngành, địa phương liên quan. Điều này đã tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, minh bạch, góp phần tạo điều kiện tối đa cho DN tư nhân phát triển theo tinh thần Nghị quyết số 68. Thời gian tới, DN mong muốn tỉnh tiếp tục quan tâm, đầu tư nâng cấp, mở rộng tuyến đường vào bến cảng tổng hợp quốc tế Hòn La nhằm giúp DN phát huy hiệu quả đầu tư và đóng góp mạnh mẽ hơn nữa vào sự phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh Quảng Trị”.

Khẳng định tầm quan trọng của khu vực kinh tế tư nhân, của các DN, doanh nhân đối với sự phát triển của tỉnh, đồng chí Vương Quốc Tuấn, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy nhấn mạnh, cộng đồng DN, doanh nhân luôn là lực lượng tiên phong, xung kích trên mặt trận kinh tế; là những người trực tiếp làm ra của cải vật chất, tạo việc làm, đóng góp nguồn thu ngân sách; là nhịp cầu đưa tiềm năng, lợi thế của địa phương trở thành động lực phát triển, góp phần nâng cao đời sống Nhân dân.

Chính vì vậy, tỉnh cam kết sẽ tạo dựng môi trường đầu tư, kinh doanh thông thoáng nhất, chuyên nghiệp nhất và an tâm nhất cho DN, nhà đầu tư. Trong đó, từ đầu tháng 10/2026, Quảng Trị đã triển khai cơ chế “Luồng xanh 24 giờ” và “Luồng xanh 60%” trong giải quyết thủ tục hành chính. Các hồ sơ thuộc diện này được gắn nhãn nhận diện riêng, xử lý song song; đồng thời tỉnh thành lập Tổ công tác liên ngành để hỗ trợ, tháo gỡ vướng mắc cho DN. Đây là cam kết bằng hành động cụ thể, để vun đắp niềm tin với DN, nhà đầu tư.

Nguồn tin: Báo Quảng Trị

Triển khai tài khoản vệ tinh du lịch: Phát triển kinh tế Quảng Trị từ dữ liệu di sản

Chiêu Anh |

Tài khoản vệ tinh du lịch được xây dựng để kết nối dữ liệu về chi tiêu của khách du lịch với hoạt động sản xuất của các ngành kinh tế. Qua đó, đo lường đóng góp của du lịch theo phương pháp thống nhất nhằm xác định đóng góp trực tiếp của du lịch vào GDP dựa trên giá trị tăng thêm từ việc cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho du khách.

Đảm việc hội, vững kinh tế

Hoài Nam |

Không chỉ phát triển kinh tế gia đình hiệu quả, chị Cao Thị Bích Thảo, dân tộc Chứt, Chi hội trưởng Chi hội Phụ nữ thôn Lâm Sum, xã Kim Điền còn tận tâm, trách nhiệm với công tác hội. Bằng những cách làm sáng tạo, hoạt động thiết thực, chị góp phần xây dựng tổ chức hội ngày càng vững mạnh, đồng thời lan tỏa tinh thần vượt khó, khơi dậy ý chí vươn lên trong chị em phụ nữ miền núi, cùng nhau phát triển kinh tế, xây dựng cuộc sống ấm no.

Mở rộng cảng Cửa Việt, tăng kết nối Hành lang kinh tế Đông - Tây

Tường Vi |

Cảng Cửa Việt là cảng biển tổng hợp quan trọng của tỉnh Quảng Trị, phục vụ trực tiếp vận tải hàng hóa trên tuyến Hành lang kinh tế Đông-Tây. Cùng với cảng biển khác, cảng Cửa Việt giúp định hình hệ sinh thái logistics ven biển tỉnh Quảng Trị.

Thay đổi tư duy phát triển kinh tế vùng biên

Xuân Phú |

Ở xã biên giới Dân Hóa, nơi đồng bào dân tộc thiểu số (ĐBDTTS) chiếm phần lớn dân số, những thay đổi trong đời sống kinh tế đang diễn ra từng ngày. Từ chỗ sản xuất nhỏ lẻ, nhiều hộ dân đã mạnh dạn tiếp cận cây trồng, vật nuôi mới, biết tận dụng nguồn lực hỗ trợ của Nhà nước để tạo sinh kế và từng bước hình thành tư duy sản xuất hàng hóa, nâng cao thu nhập.