Những năm qua, các chương trình mục tiêu quốc gia (MTQG) gồm xây dựng nông thôn mới (NTM), giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) và miền núi được triển khai đã tạo chuyển biến rõ nét ở nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh. Hạ tầng từng bước được hoàn thiện, đời sống người dân được nâng lên, góp phần thu hẹp khoảng cách giữa miền núi và đồng bằng.
Nỗ lực giảm nghèo
Xã Kim Ngân (được sáp nhập từ các xã miền núi Kim Thủy, Ngân Thủy và Lâm Thủy cũ) là 1 trong 34 xã thuộc danh sách địa bàn đặc biệt khó khăn (xã khu vực III) của tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2026-2030. Đây là xã miền núi với diện tích 886,01km2, trong đó có trên 65% đồng bào DTTS sinh sống, chủ yếu là dân tộc Bru-Vân Kiều. Dân cư sinh sống thưa thớt, phân bố rải rác ở các bản làng vùng rẻo cao, đời sống gặp rất nhiều khó khăn. Thời gian qua, công tác giảm nghèo nơi đây đã được triển khai quyết liệt, bước đầu đạt những kết quả tích cực.
Chủ tịch UBND xã Kim Ngân Đặng Văn Dương cho biết: Các chương trình MTQG về xây dựng NTM, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi được triển khai đã từng bước làm thay đổi diện mạo các thôn, bản. Giai đoạn 2020-2025 đã huy động trên 300 tỉ đồng từ ngân sách Nhà nước và các chương trình, dự án lồng ghép để xây dựng hạ tầng thiết yếu, phục vụ phát triển kinh tế-xã hội.
Nhiều mô hình sinh kế giảm nghèo được triển khai, tạo việc làm cho người dân địa phương. Đến nay, tỉ lệ hộ nghèo giảm bình quân mỗi năm đạt 2,96%, 350-400 lao động địa phương được giải quyết việc làm.

Kim Ngân là một trong những địa phương đạt kết quả tích cực trong triển khai các chương trình MTQG xây dựng NTM, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi trên địa bàn tỉnh. Có thể khẳng định, các chương trình đã góp phần thay đổi căn bản diện mạo nông thôn, thu hẹp khoảng cách giữa các vùng miền. Nhiều công trình hạ tầng thiết yếu được đầu tư, nâng cấp, đáp ứng nhu cầu sản xuất và sinh hoạt của người dân. Các dự án hỗ trợ sinh kế, tạo việc làm, thu nhập cho người nghèo, đồng bào DTTS được triển khai giúp người dân từng bước vươn lên thoát nghèo bền vững.
Bên cạnh những kết quả đạt được, việc thực hiện chương trình xây dựng NTM, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi ở một số địa phương còn hạn chế. Thu nhập và đời sống của người dân nơi đây còn thấp so với mặt bằng chung của khu vực và cả nước, nguy cơ tái nghèo còn hiện hữu.
Giải pháp cốt lõi
Toàn tỉnh hiện có 69 xã thuộc phạm vi xây dựng NTM, với 39 xã thuộc vùng đồng bào DTTS và miền núi, trong đó có 1 xã khu vực I, 4 xã khu vực II và 34 xã khu vực III. Xác định việc thực hiện chương trình xây dựng NTM, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi là một trong những nhiệm vụ chính trị trọng tâm, thường xuyên nhằm thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng, miền, vừa qua, Tỉnh ủy đã ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TU về xây dựng NTM, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi giai đoạn 2026-2035.
Theo đó, mục tiêu đến năm 2030, thu nhập bình quân của người dân nông thôn tăng gấp 2,5-3 lần so với năm 2020, tăng thu nhập bình quân của người DTTS bằng 1/2 bình quân chung của tỉnh; giảm tỉ lệ hộ nghèo đa chiều vùng đồng bào DTTS và miền núi còn dưới 25%; vùng đồng bào DTTS và miền núi cơ bản không còn xã, thôn đặc biệt khó khăn.
Đến năm 2035, phấn đấu thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn tăng ít nhất 1,6 lần so với năm 2030, tăng thu nhập bình quân của người DTTS bằng 1/2 mức bình quân chung của tỉnh; tỉ lệ nghèo đa chiều duy trì mức giảm 1%-1,5%/năm; giảm tối thiểu 50% số xã, thôn khó khăn trên địa bàn vùng đồng bào DTTS và miền núi.
Ông Nguyễn Quốc Tuấn, Phó Chánh Văn phòng điều phối NTM, Phó Chi cục trưởng Chi cục Kinh tế hợp tác và phát triển nông thôn cho biết: Để thực hiện mục tiêu đó, tỉnh sẽ chuyển mạnh từ hỗ trợ sang tạo điều kiện để vùng đồng bào DTTS phát triển, từ trợ giúp ngắn hạn sang phát triển sinh kế bền vững.
Trọng tâm là tiếp tục đầu tư phát triển đồng bộ kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội nông thôn, bảo đảm kết nối liên vùng, liên xã, phục vụ hiệu quả sản xuất và đời sống Nhân dân. Ưu tiên đầu tư hạ tầng phục vụ phát triển sản xuất và sinh kế, như hạ tầng vùng nguyên liệu, hệ thống bảo quản, chế biến nông sản... Rà soát, điều chỉnh, bổ sung các chính sách đặc thù, hỗ trợ từ ngân sách tỉnh ưu tiên cho các địa bàn khó khăn, vùng đồng bào DTTS và miền núi.
Tăng nguồn vốn tín dụng chính sách xã hội dành cho hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo, gắn hoạt động cho vay với hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tạo sinh kế, việc làm cho hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo. Bên cạnh đó, tỉnh tập trung xây dựng và nhân rộng các mô hình sinh kế phù hợp với từng vùng sinh thái và từng nhóm đối tượng...
Nguồn tin: Báo Quảng Trị