Có những vùng đất, tên gọi của nó không đơn thuần chỉ là địa danh hành chính khô khan. Ở đó, mỗi lần nhắc đến tên một ngọn đồi, một con suối hay gọi tên một loài cây là cả quãng dài lịch sử sống động như những thước phim trở dậy. Khe Sanh – Quảng Trị là vùng đất như thế.
Người đầu tiên được cấp... sổ đỏ
Trong từng lớp trầm tích của đất, trong bạt ngàn cà phê Khe Sanh nở rộ trên những triền đồi hôm nay, đều đang lưu giữ một phần ký ức xa xăm. Trong tiếng gió núi của miền cao nguyên này, tiếng vọng về của lớp lớp tiền nhân vẫn lẫn khuất đâu đây cùng năm tháng. Cũng như thế hệ hôm nay, họ là một phần của lịch sử Khe Sanh bi hùng.

Một trăm năm trước, những hạt cà phê đầu tiên được gieo xuống mảnh đất Khe Sanh, không bởi những cư dân bản địa. Họ đến từ một nơi rất xa, bên kia bờ đại dương. Họ mang theo thứ hạt lạ lẫm, đắng chát, ăn vào chỉ muốn nhổ ra tức thì và cũng không làm cho người ta no cái bụng được.
Giữa núi rừng hoang vu của Khe Sanh khi đó, nơi chỉ có cỏ cây, muông thú và những bản làng Bru Vân Kiều thưa thớt. Không ai nghĩ, rồi đây loại cây lạ lẫm kia sẽ bén duyên trăm năm cùng miền đất đỏ bazan nơi vùng biên viễn này.
Nhưng duyên phận của cà phê với Khe Sanh cũng lắm trắc trở.
Thuở ban đầu, những hạt giống lạ lẫm của các “ông Tây, bà đầm” kia không làm cho người bản địa Khe Sanh hào hứng cho lắm. Nó bị nhìn bằng cặp mắt nghi ngại, lẽ đương nhiên.

Thời mà cả miền cao nguyên đất đỏ này vẫn còn triền miên trong bóng tối của đói nghèo, lạc hậu thì thứ cây "uống không được, ăn không xong" kia, cớ sao phải tin vào nó. Những hạt lúa, hạt bắp reo vui trên những vườn rẫy kia mới là điều cần kíp, mới làm cho người ta ấm lòng.
Thế mà bằng sự tự tin của những người đi khai phá, họ đã thành công gieo những mầm xanh cà phê đầu tiên. Đó là vào năm 1926. Eugène Poilane, nhà thực vật người Pháp, cũng là một ông chủ đồn điền ở Khe Sanh, là người gieo hạt. Lặng lẽ nhưng cũng sóng gió như chính cuộc đời của ông vậy.
Những tư liệu được giải mã gần đây đã phần nào hé lộ chân dung một trong những người mở đất Khe Sanh. Một tấm giấy cấp đất của chính quyền bảo hộ Pháp cho Eugène Poilane đủ để ví von rằng, ông là người đầu tiên ở Khe Sanh được cấp “sổ đỏ”. Và cũng không ngoa khi nói rằng ông là công dân đúng nghĩa đầu tiên của vùng đất này. Hai chữ “công dân” nhìn theo lăng kính hành chính hiện đại.

Có đất, có nhà, có vợ con ở Khe Sanh. Khi chết đi cũng nằm lại Khe Sanh. Không được công nhận là công dân Khe Sanh, âu cũng sự oan uổng cho ông.

Nhưng rồi bom đạn khói lửa ập tới, không hề nhẹ. Một cuộc chiến tương tàn đi qua bao phận người. Dội thẳng vào những đồn điền cà phê đương mùa đơm hoa. Làm bật tung cả những gốc cà phê đã bám chắc vào lòng đất mẹ. Có những lúc, ranh giới giữa sự sống và cái chết thật mong manh.


Người ta rời đi. Bỏ lại bản làng để tìm tới những vùng đất an toàn. Chỉ còn cà phê ở lại, cùng núi rừng Khe Sanh, giữa hoang tàn, đổ nát.
Không phải ai cũng rời đi
Hồ Mết ở bản Tà Rùng (xã Khe Sanh) lúc đó tròn 20 tuổi, vừa cưới vợ chưa được bao lâu. Anh chọn ở lại, không phải vì anh không sợ bom đạn, mà đơn giản: anh không có chỗ nào để đi.
Những người xung quanh Mết, kẻ thì dắt díu nhau về xuôi. Người lại ngược núi, vượt sông Sê Pôn để sang Lào. Mồ côi cha mẹ từ nhỏ, lớn lên đủ sức khỏe lại làm culi đồn điền cho Tây. Khi họ rời đi, anh chỉ biết đứng nhìn theo bóng xa dần.
Chiến tranh mang lại những điều khủng khiếp, vượt ra ngoài tưởng tượng của Mết. Tiếng máy bay quần thảo, tiếng bom rơi, đạn nổ suốt ngày đêm. Cứ mỗi lần nghe tiếng rít xé toạc bầu trời, Mết lại dẫn người vợ trẻ trốn vào hang đá, dưới núi. Khi khói lửa tạm lắng, Mết chạy ngay về bản, ngang qua vườn cà phê mít vừa kết trái của mình, lòng nặng trĩu.

Anh nâng niu từng chùm quả cà phê non xanh vẫn còn ám mùi thuốc súng. Thân cây cà phê ngã nghiêng vì bị cắt ngang bởi mảnh bom, chông chênh như chính cuộc đời Mết.
Giữa những ngày khói lửa ác liệt đó, vườn cà phê của Mết nhiều cây bị bật gốc, ngã rạp vì mảnh bom. Nhưng chính trong giữa những vết thương đó, chồi non bật ra, lớn lên. Chúng bám riết vào lớp đất đỏ bazan mà sống.
Những vườn cà phê sống sót giữa hoang tàn, như chính những con người nơi đây. Mùa này qua mùa khác, những quả cà phê chín đỏ lặng lẽ rơi xuống, không ai hái, không ai rang. Chúng trở thành hạt giống của hi vọng ủ lặng lẽ, rơi vào lòng đất đã từng rung chuyển vì bom đạn.
Rồi hòa bình đến, một lớp người mới lại đến Khe Sanh. Họ đến từ những làng quê đồng bằng, vì áo cơm mà đến. Nơi chiến trường xưa, họ khai hoang những vùng đất vốn là đồn điền của người Pháp để lại, vỡ vạc những triền đồi bị bom cày xới. Phía bên kia sông Sê Pôn của nước Lào, từng đoàn di cư người Bru Vân Kiều cũng lần lượt trở về quê cũ, nơi họ từng ra đi để trốn chạy chiến trận.
Và những vườn cà phê vẫn còn đó, như chứng nhân thầm lặng của một Khe Sanh đang hồi sinh, từ đóng tro tàn chiến tranh.
Người miền xuôi, miền ngược tựa vào nhau mà gầy dựng lại cơ đồ. Trong những năm tháng thiếu thốn đó, những ký gạo, chục trái bắp từ những người bản làng ngược về phía núi, đã chẳng phải nuôi được nhiều người miền xuôi mới chập chững trên vùng đất mới đó sao? Rồi những gói muối, ít bột ngọt được đổi trao đã giúp người miền cao vượt qua những ngày “hạt muối bẻ đôi” bởi giao thông cách trở.


Hôm nay, bước giữa những vườn cà phê quả đỏ chín mộng, ít ai hình dung được dưới những lớp đất đỏ bazan kia từng là vết tích bom đạn, của những năm tháng khói lửa. Đất đã nuôi được người thì người sao có thể phụ đất.
Trong hạt cà phê hôm nay, không chỉ là vị đắng thanh đặc trưng của đất trời Khe Sanh, mà còn mang theo những câu chuyện của sự kiên cường, vị tha. Cây cà phê đã học được cách sống sót qua giông bão, người Khe Sanh đã học được cách sống hòa bình với nhau, với đất và với lịch sử.
Đất đã kể câu chuyện của mình. Nơi đó không chỉ có đau thương. Nơi đó còn có sự hồi sinh từ những chồi non cà phê bé nhỏ nhất, chứng nhân cho một Khe Sanh bao dung và vĩnh cửu.