Cà phê Khe Sanh- nơi "chưng cất ký ức" trăm năm

Thắng KS |

Giữa lòng Khe Sanh (Quảng Trị), buổi sớm mai lộng gió mang theo hương thơm nồng nàn của tách cà phê đen. Không đường, không sữa, vị chua thanh thoát xộc thẳng lên cánh mũi, rồi thấm sâu vào từng tế bào, mở ra một dòng chảy lịch sử trăm năm đầy kiêu hãnh, từ vùng đất đỏ bazan huyền thoại cho đến hiện đại.

Đồn điền cà phê đầu tiên

Trăm năm trước, Khe Sanh vẫn là miền biên viễn mù sương, nơi chỉ có tiếng thú rừng và những lối mòn của người Vân Kiều, Pa Kô. Nhưng năm 1926, nhà thực vật học Eugène Poilane đã đặt chân vào lớp đất đỏ bazan rực cháy của vùng Hướng Hóa, xác định đây là "thiên đường" cho cà phê và nhiều cây ăn quả khác.

 
 Khe Sanh nơi khí hậu lý tưởng để phát triển cây cà phê Arabica. Ảnh: Thắng KS.

Những cây cà phê đầu tiên đã vượt đèo, lội suối, bám rễ sâu vào đất Làng Trầm, mang đến một bản sắc riêng: vị chua thanh rõ nét, dịu nhẹ và sang trọng, khác biệt hoàn toàn so với nhiều vùng khác. Ngay cạnh Suối Tà Càn, gần Cầu Tà Càn trên tuyến Quốc lộ 9, Poilane đã dựng một biệt thự hai tầng kiên cố, được người bản địa gọi bằng cái tên vừa giản dị vừa đầy kính sợ: Lâu đài Pháp. Tại Làng Trầm (thôn Trằm, xã Khe Sanh ngày nay), ông còn xây dựng khu rừng mẫu, nơi tập hợp đủ loại cây lạ, kỳ hoa dị thảo từ khắp dãy Trường Sơn, biến Khe Sanh thành trạm thực nghiệm thực vật quy mô lớn của Đông Dương thuộc Pháp.

 
 Poilane đã dựng một biệt thự hai tầng kiên cố, được người bản địa gọi bằng cái tên vừa giản dị vừa đầy kính sợ: Lâu đài Pháp. Ảnh: Tự liệu.

Căn cứ quan trọng xác định nguồn gốc địa danh Mụ Rôm chính là giấy cấp nhượng đất do chính quyền bảo hộ Pháp ban hành cho Poilane ngày 24/4/1925, cho phép ông khai thác khu đất công tại vùng Làng Khoai (thôn Lương Lễ, xã Tân Hợp cũ) Quảng Trị, với địa giới mô tả rõ: đường Thuộc địa số 9, suối Rào Quán, cầu Tà Càn cùng các cao điểm lân cận. Trong văn bản gốc tiếng Pháp, khu đất này được gọi là Rome. Theo truyền khẩu của cư dân Bru - Vân Kiều, tên hành chính này dần biến âm thành Rôm, rồi thành cách gọi dân gian Mụ Rôm.

 
Giấy cấp nhượng đất do chính quyền bảo hộ Pháp ban hành. Ảnh: Tư liệu. 

Trong ký ức địa phương, tên này gắn liền với hình ảnh bà Yvonne Bourdeauducq, vợ đầu của Poilane, người trực tiếp điều hành đồn điền Rome sau khi chia tay với ông. Các bản tin địa phương còn lưu trữ chi tiết rằng bà từng hạ sát tới 25 con hổ để tự vệ và bảo vệ đồn điền, khiến danh xưng Mụ Rôm vừa mang sắc thái kính nể, vừa ám ảnh rùng rợn, được truyền qua nhiều thế hệ.

 
“Mụ Rôm” vừa mang sắc thái kính nể, vừa ám ảnh rùng rợn, được truyền qua nhiều thế hệ. Ảnh: Tư liệu.

Để che chắn những cây cà phê chè mảnh mai trước nắng gió khắc nghiệt, Poilane đã cho trồng xen cà phê mít cao thân và các loài cây bóng mát như bơ, giúp hệ thống đồn điền phát triển nhanh chóng. Nhưng sau đó, sự trù phú của khu vực bắt đầu rẽ sang những nhánh khác, khi mối quan hệ gia đình phức tạp hình thành, và số phận của họ bị cuốn vào những biến động lớn của thế kỷ XX - từ giáo dục thuộc địa cho đến chiến tranh.

Sau khi Poilane miệt mài với những chuyến điền dã, bà Yvonne trở thành linh hồn của đồn điền Rome, người trực tiếp điều hành sản xuất, và từ đó cái tên Mụ Rôm ra đời, gắn với hình ảnh một bà chủ đồn điền đầy quyền lực.

Để xây dựng cái "đế chế" giữa rừng thiêng nước độc, Poilane còn gắn kết đời mình với những người đàn bà Việt, tạo nên một mạng lưới gia tộc phức tạp và đầy toan tính. Bà Ba - người đàn bà đất thép Vĩnh Linh, quê gốc Sa Lung, Vĩnh Linh, đến với ông không chỉ như một sự gắn kết đời sống, mà còn là nét quyến rũ đoan chính của cô gái Vĩnh Linh, đẹp người, đẹp nết, vốn xuất thân từ phận làm công nơi đồn điền.

Từ quán rượu kiểu Pháp ở Khe Sanh, bà bước vào cuộc đời Poilane, để rồi trở thành mẹ của hai cô con gái Ma-ghi và Ty-ty. Bà Đặng Thị Nam - đóa hoa vùng cao, người dân tộc Tày, cũng trở thành người vợ thứ ba của ông, và là mẹ của Jean Poilane, cậu con trai mang hai dòng máu Pháp - bản địa, thường được gọi bằng cái tên thân thuộc Răng trong gia đình.

Cuộc hôn nhân này không chỉ là câu chuyện riêng tư, mà còn phản ánh một giai đoạn đặc biệt trong hành trình của Poilane tại Đông Dương. Những năm tháng khảo cứu thực vật đã đưa ông tiếp xúc sâu hơn với đời sống bản địa, và chính sự gắn bó với bà Nam đã tạo nên một sợi dây liên kết huyết thống giữa ông và cộng đồng vùng cao. Từ đó, hình ảnh Poilane không chỉ dừng lại ở vai trò một nhà thực vật học, một chủ đồn điền hay một người Pháp xa lạ, mà trở thành một phần của cộng đồng, gắn bó bằng tình thân, bằng gia đình, và bằng chính những mạch máu bazan đã nuôi dưỡng cây cà phê nơi Khe Sanh.

Sự sụp đổ và hồi sinh từ nền phế tích

Trong tư duy của Poilane và những người vợ, tri thức phương Tây chính là công cụ để duy trì vương quốc cà phê - thứ nước uống có màu nâu cánh gián, vị đắng nhẹ nhàng, tinh tế đã làm say lòng giới quý tộc Paris. Nhưng dưới những tán lá cà phê xanh ngắt, nơi phu phên đổ mồ hôi để nuôi dưỡng giấc mơ cho nhà chủ, bóng tối của chiến tranh đã bắt đầu đổ dài trên những đồi bazan.

Năm 1962, người Mỹ thay thế người Pháp tại Khe Sanh, biến Quốc lộ 9 thành bàn đạp chiến lược quân sự, liên kết các căn cứ hỏa lực từ Làng Vậy, Chi khu quân sự Hướng Hóa đến cụm điểm sân bay Tà Cơn. Năm 1962, họ xây dựng sân bay Tà Cơn từ sân bay hạng nhẹ của người Pháp và thiết lập hàng rào điện tử McNamara, biến nơi đây thành vùng "oanh kích tự do", nơi một nhánh cây gãy cũng có thể kích hoạt một trận mưa bom từ B-52.

Giữa cái gọng kìm điện tử tàn khốc ấy, một dòng chảy khác vẫn âm thầm nhưng mãnh liệt cuộn trào: đó là bước chân của hàng vạn dân công hỏa tuyến và thanh niên xung phong từ Vĩnh Linh, "lũy thép" và các tỉnh lân cận. Từ đầu năm 1968, đặc biệt là cao điểm chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh, họ đã xuyên đêm chi viện lương thực, vũ khí cho mặt trận. Những chàng trai, cô gái tuổi đôi mươi đã gắn bỏ máu thịt với từng gốc cà phê, từng tấc đất đỏ Hướng Hóa, không chỉ đến để chiến đấu, mà còn mang theo niềm tin về một ngày hòa bình sẽ được cùng bà con bản địa trồng lại những vườn cây xanh ngắt trên chính nền phế tích này.

Định mệnh nghiêt ngã đã giáng xuống gia đình Poilane ngay giữa vòng xoáy giao tranh: Năm 1964, Eugène Poilane tử nạn ngay trên Đường 9, giấc mơ về một đế chế thực vật tan vỡ. Năm 1968, con trai Félix Poilane cũng thiệt mạng trong một vụ nổ máy bay C-130. Sự sụp đổ của Khe Sanh năm 1968 là dấu chấm hết cho sự hiện diện của người Pháp. Những người đàn bà và những đứa con của nhà Poilane phải dứt áo ra đi, để lại một "vương quốc" bị băm nát bởi bom đạn và rào gai điện tử.

Sau năm 1975, Khe Sanh là một vùng đất vết sẹo, nhưng chính trên nền phế tích ấy, một cuộc hồi sinh vĩ đại đã bắt đầu, được dệt nên bởi sự kết hợp kỳ diệu giữa những người con mới đến và những người đã bám trụ qua hai cuộc chiến tranh. Sự hồi sinh này bắt đầu từ những chuyến xe kinh tế mới đầy hy vọng, là sự hội quân của những người con từ vùng đồng bằng Triệu Hải, hòa cùng dòng người từ "đất thép" Vĩnh Linh và những người anh em từ đất gió Lào Quảng Bình ngược ngàn lên lập nghiệp.

Đặc biệt, trong đoàn quân khai hoang ấy, có rất nhiều cựu thanh niên xung phong và dân công hỏa tuyến năm xưa, những người từng tải đạn, khiêng cáng trên Đường 9, giờ quyết định gác súng, cầm cuốc, chọn Khe Sanh làm quê hương thứ hai. Họ hội ngộ cùng bà con bản địa - những người phu đồn điền cũ, người Vân Kiều, Pa Kô đã bám trụ từ đầu thế kỷ trước.

Chính những "cựu binh" của đất rừng này đã tận tình chỉ cho người mới cách nhìn màu đất bazan, cách bấm đọt, cách ươm mầm từ những hạt cà phê hoang sót lại trong khe suối sau chiến tranh. Sự giao thoa giữa cái "kỹ thuật" sắc sảo của người miền xuôi và cái "kinh nghiệm" xương máu của người bám bản đã tạo nên một sức mạnh phục sinh mãnh liệt cho từng gốc cà phê.

Hành trình hồi sinh không chỉ có mồ hôi mà còn có cả máu. Dưới lớp đất đỏ bazan màu mỡ, kẻ thù để lại "đội quân ngầm" tàn nhẫn: bom mìn và vật nổ sót lại. Đã có không ít người dân kinh tế mới và bà con bám bản trở thành nạn nhân khi đang vỡ hoang, đào hố trồng cà phê. Có những bàn tay chẳng còn vẹn nguyên sau một nhát cuộc chạm phải "tử thần". Mỗi gốc Arabica xanh tốt hôm nay không chỉ thấm đẫm dưỡng chất từ đất mẹ, mà còn thấm cả sự hy sinh thầm lặng của những người nông dân dũng cảm trong thời bình.

Trong cái đói và sự đe dọa của bom mìn, người dân vẫn kiên cường nhặt nhạnh những viên gạch vỡ từ "Lâu đài Làng Trầm" của Poilane để xây nên những ngôi nhà mới. Họ lấy cái chết chóc của chiến tranh để phục vụ cho sự sống của thời bình. Cây cà phê lúc này đã thực sự đổi vận: không còn là biểu tượng của sự cai trị thực dân, mà trở thành "cây xóa nghèo", cây hy vọng. Như những Chi bộ Đảng đầu tiên được thành lập ngay giữa những vườn cà phê còn nồng mùi đất mới, nơi mà niềm tin vào tương lai được viết tiếp bởi sự chung tay của những cựu TNXP, người dân kinh tế mới và bà con bản địa.

Vị ngọt hậu và thông điệp hòa bình

Giữa cuộc hồi sinh ấy, những người như anh Chương hay ông Thương – những người cải táng Poliane vẫn âm thầm giữ lại những mảnh ghép cuối cùng của quá khứ. Ngôi mộ của Poilane ven hồ Làng Trầm xưa vẫn được chăm sóc khói hương, không phải là sự tôn vinh thực dân, mà là sự tri ân của người Việt với nguồn gốc một giống cây đã cùng họ vượt qua bĩ cực. Đồng thời là lời khẳng định: trên nền phế tích của kẻ xâm lược, người Việt đã xây dựng nên một vương quốc của sự tự do.

 
 Ngôi mộ của Poilane ven hồ Làng Trầm xưa vẫn được chăm sóc khói hương, 

Đi qua đau thương, hạt cà phê Khe Sanh giờ đây đã vươn mình ra thế giới với một tâm thế tự tôn. Không còn là "hạt đắng" của nô lệ, nó là "hạt ngọt" của tự do và bản lĩnh người Quảng Trị. Quán Cà phê Hải, cách ngã ba Tượng đài chiến thắng Khe Sanh chừng 50 mét. Đây không chỉ là điểm hẹn của những tâm hồn say mê "vàng đen" đất đỏ mà còn là nơi giữ gìn hương vị trăm năm của vùng đất này. Chủ quán Hải nói về cách thưởng thức cà phê như một nghi lễ, chậm rãi và tôn trọng, từ cách pha lạnh Cold Brew để thấy hết cái sự thanh khiết, tươi mới của trái cây, đến cách pha nóng truyền thống để mùi hương hạnh nhân, socola bốc lên nồng nàn.

Thành danh từ cà phê Khe Sanh như Hải, Phan Hồng Phong, người đứng sau thương hiệu Pun Coffee, mang đến tin vui rạng rỡ: Hạt Arabica của Hướng Phùng vừa đạt giải Nhất cuộc thi Cà phê đặc sản toàn quốc. Amazing Cup, với sự quyến rũ lắm anh ạ, vị chua thanh sang trọng và hậu vị ngọt êm dịu được công nhận là đỉnh cao nhất Việt Nam.

Hơn 100 năm trước, hạt cà phê Khe Sanh rời bến cảng sang Pháp theo những đơn hàng của thực dân. Hôm nay, giấc mơ ấy đã thành hiện thực một lần nữa nhưng với một tâm thế hoàn toàn khác: hạt cà phê đoạt giải quốc tế được pha chế bởi những người như Hải, Phong chính thức vươn tầm đến trời Âu. Cà phê Khe Sanh nay không còn là nguyên liệu thô vô danh mà tiến vào thị trường quốc tế với cái tên đầy kiêu hãnh: Arabica Khe Sanh - Việt Nam.

Người châu Âu thưởng thức nó và kinh ngạc trước sự cân bằng hoàn hảo mà đất đỏ bazan Quảng Trị mang lại: một hương vị vừa có cái gắt nồng của nắng gió, vừa có cái ngọt hậu sâu thẳm của tình người.

Lịch sử trăm năm của cà phê Khe Sanh là một vòng tròn hoàn hảo: từ hạt mầm viễn chinh của Poilane, qua khói lửa chiến tranh, đến bàn tay hồi sinh của những người dân kinh tế mới, và nay là sự bùng nổ đầy kiêu hãnh của lớp trẻ như Hải, như Phong.

Tách cà phê tôi uống bên tượng đài hôm nay mang vị ngọt của tự do, nhưng trong vị ngọt hậu thanh tao ấy, tôi vẫn cảm nhận được cái nồng nàn của đất mẹ - nơi đã ôm trọn vào lòng bao lớp người đã ngã xuống. Đó là những chiến sĩ giải phóng quân nằm lại dưới những hố bom, là những chàng trai cô gái thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến vĩnh viễn gửi lại tuổi thanh xuân bên cung đường lửa, và cả những người nông dân thời bình đã ngã xuống vì bom mìn còn sót lại khi đang vỡ hoang trồng hạt mầm hy vọng.

Sau một thế kỷ chìm nổi cùng vận mệnh đất nước, hạt cà phê Khe Sanh giờ đây không chỉ là câu chuyện của những đồn điền cũ hay những cuộc mưu sinh. Nếu một lần bạn được ngắm hoa cà phê trắng muốt nở rộ trên triển đồi Khe Sanh, hít hà hương thơm ngọt ngào, thanh khiết như hoa nhài, hoa cam nơi đất trời đầy nắng và gió Quảng Trị, bạn sẽ hiểu rằng: trong mỗi tách cà phê Khe Sanh còn có cả ký ức của đất trời, của tự do và lòng biết ơn, những giá trị đã được chưng cất qua trăm năm lịch sử.

TAGS

Nghe trong cà phê Khe Sanh

Bội Nhiên |

Và với cà phê Khe Sanh, ở bất cứ chỗ nào trên miền biên viễn Hướng Hóa cũng nghe nói về quá khứ, hiện tại cùng tương lai...

Chương trình “Theo dấu chân 100 năm Cà phê Khe Sanh” sẽ diễn ra vào tháng 10/2026

Trần Hà |

Chương trình “Theo dấu chân 100 năm Cà phê Khe Sanh” sẽ diễn ra vào tháng 10 năm 2026 tại xã Khe Sanh, tỉnh Quảng Trị trong khuôn khổ Lễ hội Vì hòa bình năm 2026.

Kể chuyện cà phê Khe Sanh...

Phạm Xuân Dũng |

Nói đến cà phê Việt Nam, thường người ta sẽ nghĩ ngay đến địa danh Buôn Ma Thuột. Song, cây cà phê còn hiện diện ở nhiều vùng đất khác của Việt Nam, trong đó có Quảng Trị.

Khát vọng đưa cà phê Khe Sanh vươn ra thế giới

Thanh Hải (thực hiện) |

Năm 2026 đánh dấu tròn một thế kỷ cây cà phê bén rễ trên vùng đất Khe Sanh - Hướng Hóa. Từ những đồn điền thuộc địa do người Pháp đưa vào trồng năm 1926, đến nay, Khe Sanh đã trở thành một trong những vùng cà phê chất lượng cao, từng bước khẳng định vị thế trên bản đồ cà phê đặc sản Việt Nam. Tháng 10/2026, Quảng Trị sẽ tổ chức chuỗi hoạt động kỷ niệm 100 năm cà phê Khe Sanh trong khuôn khổ Lễ hội Vì Hòa bình năm 2026. Đây là sự kiện mở ra cơ hội quảng bá, nâng tầm thương hiệu cà phê Khe Sanh trong tiến trình hội nhập. Phóng viên (P.V) Báo và phát thanh, truyền hình Quảng Trị đã có cuộc trao đổi với ông Trần Thái Thiên, Chủ tịch Hội Cà phê Khe Sanh về những hoạt động đang được chuẩn bị cho dấu mốc đặc biệt này.