Từ một loại cây rừng từng bị lãng quên, hạt trẩu vùng Trường Sơn đang tìm lại giá trị khi được đưa vào chuỗi liên kết bền vững, mở ra cơ hội về đầu ra ổn định, tăng thu nhập cho người dân và giữ rừng từ chính sinh kế.

Ngày 7/9, tại xã Hướng Phùng, Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Quảng Trị, Công ty Thương mại Quảng Trị (SEPON Group), WWF-Việt Nam và Landscape Resilience Fund (LRF) ký kết thỏa thuận hợp tác liên kết thu mua hạt trẩu với cộng đồng địa phương, gồm đại diện các thôn, bản Doa Mã Lai, Xa Ry, Miệt, Hướng Linh, Kợp.
Theo thỏa thuận, năm 2026, các bên dự kiến liên kết với khoảng 500 hộ dân, thu mua khoảng 300 tấn hạt trẩu. Đi cùng với việc thu mua là những cam kết về bảo vệ rừng, đa dạng sinh học; người dân thu hái đúng cách, bảo vệ cây mẹ, không chặt phá rừng tự nhiên, không săn bắt động vật hoang dã và không làm tổn hại đến hệ sinh thái.
Một thời hạt trẩu là cứu cánh
Ở phía bắc Hướng Hóa (cũ), cây trẩu không phải loài cây xa lạ bản địa. Nhờ khí hậu ôn hòa, đất đai phù hợp, cây trẩu từng được người Pháp đưa vào trồng ở một số nơi, sau đó cây phát triển nhanh rồi tự phát tán ra nhiều khu vực lân cận.
Hòa bình lập lại, cây trẩu tiếp tục được mở rộng trong các chương trình khôi phục sản xuất, phủ xanh đất trống đồi trọc. Đặc biệt, trong các dự án PAM - chương trình viện trợ của Chương trình Lương thực Thế giới phối hợp với Chính phủ Việt Nam thực hiện từ thập niên 1980 đến 1990. Thời điểm đó, cây trẩu được trồng khá phổ biến ở các xã phía tây Quảng Trị.

Người dân vừa trồng rừng, vừa được hỗ trợ lương thực. Cây trẩu giúp người dân vừa đặt chân tới vùng đất mới vượt qua những thời điểm khốn khó nhất.
Có thời, trẩu phủ xanh những vùng đất từng là chiến trường như sân bay Tà Cơn, cao điểm Xa Re, Cu Vơ... Cây lớn nhanh, ít phải chăm sóc, đến mùa cho quả, lấy hạt ép dầu.
Cho tới một ngày, những cánh rừng trẩu xanh rì phải nhường chỗ cho áo cơm, khi giá cà phê lên ngôi. Trẩu mất giá, người dân chuyển sang cà phê. Những cánh rừng trẩu dần bị thay thế, rồi cây trẩu bị lãng quên.
Nhưng cây không biến mất hoàn toàn. Những cây còn sót lại vẫn âm thầm lớn lên trong rừng. Đến tháng 9, quả chín rụng xuống, người dân các bản làng lại vào rừng nhặt hạt, bán cho thương lái.
Một người có thể thu gom 20-30 kg mỗi ngày. Ở những vùng trẩu nhiều, một gia đình có thể thu gom khoảng 100 kg/ngày, mang về khoản thu nhập vài triệu đồng. Điều đáng nói là để có khoản thu nhập ấy, người dân không cần chặt cây, không cần mở đất. Chỉ cần thu hái những gì rừng đã cho.
Những hạt trẩu tìm đường ra thị trường
Nếu trước đây hạt trẩu chủ yếu được thu gom nhỏ lẻ, đầu ra phụ thuộc vào thương lái thì từ năm 2025, câu chuyện bắt đầu khác.
SEPON Group đã ký hợp đồng hợp tác quốc tế với Công ty TNHH Finmor (Ấn Độ) nhằm phát triển chuỗi giá trị cho cây trẩu, bao gồm sản phẩm hạt trẩu khô và dầu trẩu.

Từ đây, Sepon Group bắt đầu thử nghiệm thu mua hạt trẩu từ cộng đồng với mức giá tốt hơn, đồng thời tìm kiếm thị trường tiêu thụ ổn định.
Tháng 11/2025, SEPON Group xuất khẩu thành công lô 60 tấn hạt trẩu đầu tiên sang Ấn Độ. Hai container hạt trẩu rời cảng Tiên Sa, Đà Nẵng, mở ra một hướng đi mới cho loại hạt từng ít được chú ý này.
Nhưng xuất khẩu được một lô hàng không có nghĩa thị trường đã hình thành. Điều khó hơn là làm sao có vùng nguyên liệu ổn định, chất lượng được kiểm soát và người dân có thể duy trì việc thu hái qua nhiều năm.
Quảng Trị hiện có hơn 3.000 ha trẩu, chiếm hơn 21% diện tích trẩu cả nước. Với dư địa phát triển còn rất lớn, địa phương hoàn toàn có thể hình thành vùng nguyên liệu, trở thành nguồn cung lớn cho các thị trường trong nước và thế giới.
Đó cũng là lý do lễ ký kết tại Hướng Phùng lần này được đặt trong một câu chuyện rộng hơn: liên kết cộng đồng - doanh nghiệp - thị trường, nhưng đồng thời phải giữ được cánh rừng đang tạo ra nguồn nguyên liệu ấy.
Không chạy theo một mùa giá
Ông Hồ Xuân Hiếu, Chủ tịch Hội đồng quản trị Sepon Group, cho rằng muốn cây trẩu đi xa, doanh nghiệp không thể chỉ nhìn vào việc thu mua từng mùa.
Thời gian qua, SEPON đã thử nghiệm thu mua, chế biến và tìm kiếm thị trường cho hạt trẩu. Từ những lô hàng thành công đầu tiên, với mong muốn cây trẩu có trở thành ngành hàng ổn định, có thị trường và có tương lại, doanh nghiệp đã tiến thêm một bước: liên kết với cộng đồng để xây dựng vùng nguyên liệu bền vững.
"Nếu tổ chức được vùng nguyên liệu, kiểm soát chất lượng và xây dựng được thị trường ổn định, trẩu hoàn toàn có thể trở thành một cây sinh kế có giá trị cho bà con vùng miền núi", ông Hiếu nói.

Cũng theo ông Hiếu, cần hình thành những vùng trẩu phù hợp, hướng dẫn người dân chăm sóc, thu hái, xây dựng hệ thống thu mua ổn định và minh bạch về giá. Sepon Group cam kết mua toàn bộ sản phẩm với mức giá sàn 6.000 đồng/kg.
Mục tiêu xa hơn là phát triển chế biến sâu dầu trẩu ngay tại Quảng Trị, mở rộng thị trường trong nước và xuất khẩu, để giá trị không dừng lại ở những bao hạt trẩu nguyên liệu.
Khi sinh kế trở thành lý do giữ rừng
Điểm đáng chú ý của mô hình này nằm ở chỗ người dân có thể kiếm tiền từ rừng mà không cần khai thác rừng.

Họ thu hái quả chín, bảo vệ những cây mẹ để cây tiếp tục tái sinh, đồng thời cam kết không chặt phá rừng tự nhiên, không săn bắt động vật hoang dã.
Ông Nguyễn Nhật An, Quản lý dự án WWF-Việt Nam, cho rằng muốn người dân tham gia bảo vệ rừng lâu dài thì họ phải nhìn thấy giá trị của rừng đối với chính cuộc sống của mình. Khi ấy, bảo tồn không chỉ là những quy định từ bên ngoài mà trở thành lựa chọn của cộng đồng.
WWF-Việt Nam đóng vai trò kết nối doanh nghiệp với cộng đồng, hỗ trợ thị trường, phối hợp với chính quyền và chủ rừng, đồng thời hướng dẫn người dân thu hái trẩu đúng cách, sử dụng bền vững tài nguyên rừng.
Ông Phan Văn Phước, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Quảng Trị, cho rằng gắn sinh kế với bảo vệ rừng là hướng quan trọng đối với phát triển bền vững miền núi.
Bởi khi rừng tạo ra thu nhập mà không bị tàn phá, người dân sống cùng rừng sẽ có thêm một lý do để giữ lại những gì đang có. Khi rừng cho người miền núi một sinh kế, giữ rừng không còn chỉ là trách nhiệm mà là giữ gìn tài sản của chính cộng đồng sống cùng rừng.
Nguồn tin: nongthonviet.vn