Thiếu nước và khủng hoảng

Nguyên Mi |

Trong lịch sử loài người, thiếu nước, tự nhiên hay nhân tạo, luôn là vấn đề phải giải quyết, kể từ khi con người chúng ta bắt đầu dùng nước để tưới tiêu cho nông nghiệp. Tuy nhiên, vấn đề thiếu nước càng ngày càng nghiêm trọng, nhất là trong những năm gần đây.

Vì lẽ đó, Báo cáo về Rủi ro Toàn cầu phát hành hàng năm của Tổ chức Diễn đàn Kinh tế Thế giới trong suốt năm năm qua (2016 đến 2020) đã coi khủng hoảng nước là một trong năm rủi ro hàng đầu đối với thế giới tính về tác động của vấn đề.

Khủng hoảng nước: Lịch sử và hiện tại

Kinh tế phát triển, dẫn đến mẫu hình tiêu dùng nước đổi vì nhu cầu về nước tăng mạnh để đáp ứng nhu cầu nông nghiệp (hiện dùng 70% lượng nước), công nghiệp sản xuất máy móc và các ngành công nghiệp khác (hiện dùng 19% lượng nước), và hộ gia đình (hiện dùng 8% lượng nước). Lượng nước tích trữ ở các hồ chứa thuỷ điện lên tới 5% tổng lượng nước trên thế giới.

Thả lưới trên dòng Mê Kông. Ảnh AFP
Thả lưới trên dòng Mê Kông. Ảnh AFP

Một ví dụ cụ thể mà nhiều nhà quan sát nêu lên là xung đột ở Syria kéo dài từ năm 2011 cho đến nay. Nhiều người trong chúng ta nghĩ rằng nguyên nhân chính của cuộc xung đột này là cạnh tranh Nga - Mỹ hay do tác động của mùa xuân Ả rập. Điều đó đúng nhưng chưa đủ. Có một nguyên nhân quan trọng nữa là nạn hạn hán kéo dài từ 2006 đến 2011. Thiếu nước ở Syria làm mùa màng thất bát, chăn nuôi tiêu điều và các gia đình nông thôn di cư vào thành thị. Chính điều này mới là nguyên nhân xâu xa dẫn đến nội chiến, làm chết nửa triệu dân, đẩy dân vào tình cảnh đói nghèo cùng cực cũng như buộc người dân phải di cư đến nước khác. Cuộc chiến tranh ở Syria minh chứng cho vai trò trung tâm của việc mất an ninh nguồn nước đối với bất ổn và xung đột.

Đây cũng không phải là điều gì mới. Ngay từ những năm đầu tiên khi loài người bắt đầu hiểu được tầm quan trọng của nguồn nước trong sản xuất nông nghiệp ở vùng Lưỡng Hà vào khoảng năm 2.400 trước công nguyên. Tại thời điểm đó vua Urlama của vương quốc Lagash đã đổi hướng nước chảy từ vùng này sang kênh đào vùng biên giới, làm khô sông đào để vương quốc Umma không còn nước dùng. Con của vua Urlama còn ngưng cung cấp nước cho thành phố Girsu của Umma. Tất cả những hành động này gây ra thiếu nước ở Umma và căng thẳng trong quan hệ giữa hai bên (http://www.worldwater.org/conflict/list/). Viện Thái Bình Dương của Mỹ đã liệt kê gần 1.000 tranh chấp, xung đột liên quan đến nước cho đến nay.

Báo cáo về Rủi ro Toàn cầu cho thấy, trong năm 2017 đã có 45 nước trên thế giới có nguy cơ xung đột do nguồn nước. Khoảng gần hai phần ba dân số (khoảng 4 tỉ người) thế giới không tiếp cận được nguồn nước ít nhất là một tháng mỗi năm. Tầm quan trọng của nước đã làm cho tình trạng mất an ninh nguồn nước có thể dễ biến thành căng thẳng và bất đồng trong một nước và giữa các nước với nhau. Nước có thể được dùng như vũ khí. Một nước có thể kiểm soát, phá hoại, hoặc định hướng lại tiếp cận nguồn nước để đạt được mục tiêu của mình là đánh vào cơ sở hạ tầng và việc cung cấp nước. Những bước tiến về công nghệ Internet làm tăng khả năng tấn công vào hạ tầng quan trọng càng làm chúng ta lo ngại về an ninh nguồn nước.

Một ví dụ điển hình về mất an ninh nguồn nước có thể thấy ở vùng châu thổ sông Niger ở Mali. Nguồn nước cho vùng châu thổ bị gián đoạn vì việc xây dựng hai đập thuỷ điện ở thượng lưu, gây nguy cơ huỷ diệt hệ sinh thái vốn đã yếu đuối và làm mất ổn định toàn bộ khu vực. Thay đổi dòng chảy ở hạ lưu có thể gây nguy hiểm cho hoạt động đánh cá là trụ cột kinh tế của các làng ven sông, phá kế sinh nhai và gây căng thẳng xã hội. Người dân không được tiếp cận với nguồn nước chắc chắn sẽ nghèo hơn, trở thành mục tiêu tuyển mộ của các nhóm cực đoan ngày càng phát triển ở khu vực. Như vậy, nguy cơ xung đột tăng cao. Chúng ta còn có thể kể ra nhiều địa điểm trên thế giới mà nguy cơ xung đột do nguồn nước tồn tại. Sông Nile chảy qua 11 nước Châu Phi cũng đã từng là nguồn gốc căng thẳng giữa nhiều nước ven sông, đặc biệt là Ai Cập và Sudan. Nguồn nước trên sông Jordan là chủ đề thảo luận của nhiều cuộc đàm phán giữa hai nước Israel và Jordan từ năm 1948 khi Israel trở nên độc lập đến năm 1994 khi hai nước ký hiệp ước hoà bình. Malaysia và Singgapore cũng đã chật vật lắm mới có thể giải quyết vấn đề nước giữa hai nước, tuy Malaysia vẫn luôn cho rằng mình không được đối xử công bằng.

Gần với chúng ta hơn là sông Brahmaputra (phần ở Trung Quốc được gọi là Yarlung Zingbao và phần ở Bangladesh được gọi là Jamuna) của Ấn Độ và sông Mê Kông (phần ở Trung Quốc gọi là Lan Thương). Vùng hạ lưu hai sông này đã trở “nóng” trong những năm gần đây vì việc xây đập trên vùng thượng lưu.

Cách giải quyết đa phương và song phương

Kiểm soát nguồn nước thường được thực hiện theo hai quyền: Quyền kiểm soát trên thực tế (de facto) và quyền kiểm soát theo luật pháp (de jure). Trung Quốc kiểm soát Tây Tạng và do vậy sẽ có quyền kiểm soát sông Brahaputra và sông Mê Kông. Tuy nhiên, trên thực tế, cho dù chiếm hữu là chín phần mười của vấn đề, thì nhiều khủng hoảng nước được giải quyết bằng luật quốc tế về nước.

Về đa phương, luật quốc tế có Quy định Helsinki về Sử dụng Nước ở Sông Quốc tế năm 1966, đưa ra những nguyên tắc chung về sử dụng nước trên sông chảy qua các nước. Ngoài ra còn những quy định được pháp điển hoá trong Công ước về Sử dụng Đường thuỷ Quốc tế không vì Mục đích Đi lại đã được Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua năm 1997 nhưng chưa có hiệu lực. Nhìn chung luật nước quốc tế theo tập quán quy định khung sử dụng nước tính đến các yếu tố như sử dụng nước lịch sử, khối lượng nước do các sông trên lãnh thổ mỗi nước cung cấp, dân số và nhu cầu về nước trong tương lai.

Về song phương, từ thế kỷ thứ 19 đến nay đã có hơn 400 hiệp định được ký kết liên quan đến sử dụng nguồn nước. Các nước ven sông Ranh ở Châu Âu đã có hiệp định sông Ranh để tranh ô nhiễm. Tương tự như vậy, các nước ven sông Danube đã ký hiệp định song Danube để duy trì dòng chảy có lợi cho tất cả các nước ven sông. Ấn Độ đã ký Hiệp định sông Indus, dành 80% nước để Pakistan sử dụng. Năm 1996, Ấn Độ cũng đã ký Hiệp định sông Hằng với Bangladesh, cam kết bảo đảm mực nước tối thiểu chảy qua biên giới hai nước. Ở khu vực sông Mê Kông, Uỷ hội sông Mê Kông là nền tảng khu vực cho các hoạt động ngoại giao về nước và trung tâm tri thức về quản lý nguồn nước vì phát triển bền vững khu vực.

Chúng ta mong rằng hai điểm nóng ở khu vực Châu Á, sông Brahmaputra và sông Mê Kông cũng sẽ được giải quyết thông qua thương lượng có lợi cho tất cả các nước ven sông.

(Nguồn: Báo Lao Động)

TAGS

Tình nguyện mang nước sạch đến với người dân vùng cao

Quang Hiệp |

Mang trong mình trái tim thiện nguyện, thời gian qua, anh Nguyễn Thanh Tùng cùng những người bạn đã vận động các tổ chức, cá nhân có tấm lòng hảo tâm chung tay, góp sức mang nước sạch đến với người dân vùng cao. Phóng viên Báo Quảng Trị vừa có cuộc trò chuyện với anh NGUYỄN THANH TÙNG về hành trình khó khăn nhưng không đơn độc này.

Trưa 14/5, Việt Nam ghi nhận 16 ca mắc mới trong nước

PV |

16 ca mắc mới ghi nhận tại Bắc Ninh 7 ca, Bệnh viện K cơ sở Tân Triều 3 ca, Lạng Sơn 2 ca, Nam Định 2 ca, Thái Bình 1 ca, Hưng Yên 1 ca.

Quan tâm phòng tránh đuối nước cho trẻ em mùa nắng nóng

Ngọc Trang |

Triệu Phong (Quảng Trị) là huyện có nhiều sông, ao hồ, kênh mương thủy lợi. Để phòng tránh và hạn chế tối đa hậu quả do đuối nước gây ra trong mùa nắng nóng, các ngành chức năng, đoàn thể, địa phương, trường học trên địa bàn huyện đã và đang tích cực phối hợp triển khai các biện pháp phòng tránh đuối nước cho người dân, đặc biệt là trẻ em.

Tặng bằng khen cho 3 học sinh dũng cảm cứu người bị đuối nước

Trần Tuyền |

Ngày 11/5/2021, Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Trị Võ Văn Hưng ký quyết định tặng bằng khen cho 3 em: Trần Viết Tôn, Nguyễn Vĩnh An, Bùi Trường Giang, đều là học sinh lớp 8, Trường Tiểu học & THCS Gio Hải số 1, xã Gio Hải, huyện Gio Linh (Quảng Trị) vì đã có hành động dũng cảm cứu người bị đuối nước tại biển Cửa Việt ngày 3/4/2021.