Gói trọn hương vị trăm năm

Mai Nhân |

 Trong sự “bủa vây” của bánh kẹo công nghiệp, nguyên liệu nhập khẩu, vẫn còn một hộ gia đình sản xuất bánh kẹo truyền thống bên dòng Kiến Giang lặng lẽ duy trì hương vị của quê hương. Là thế hệ thứ tư của gia đình theo nghề truyền thống hơn 150 năm tuổi, anh Trần Trung Kiên (SN 1979, ở xã Lệ Thủy), “ông chủ” nhãn hiệu mè xửng Hiếu Kiên (mè xửng gia truyền ông Ký) “gói gọn” bí quyết tồn tại trong sự cạnh tranh khốc liệt của thị trường khi  “giữ vị quê bằng tình yêu và cái tâm với nghề của cha ông”.

Hơn 150 năm “giữ lửa” nghề

Cuốn “Địa chí huyện Lệ Thủy” ghi rõ: “Nghề làm kẹo, đặc biệt là kẹo mè xửng ở huyện Lệ Thủy chỉ có ở làng Mỹ Lộc, nay là hai thôn Mỹ Lộc Thượng và Mỹ Lộc Hạ thuộc xã An Thủy. Vị thủy tổ nghề làm kẹo là người họ Trần Văn mang từ Huế ra, trong một chuyến đi làm thuê để học nghề. Trở về làng Thạch Bàn Thượng, nay là thôn Thạch Bàn, xã Phú Thủy, nơi lam sơn chướng khí, dân cư thưa thớt, không phát huy được nghề mới, ông liền chuyển gia đình về sống ngụ cư tại làng Mỹ Lộc. Nơi đây dân cư đông đúc, có chợ Đa mua bán tấp nập...

Nghề mè xửng phát triển thành nghề và có thêm các loại kẹo, bánh khô, bánh nổ phục vụ các ngày lễ, Tết và ngày hội. Ngoài bà con họ Trần Văn, phát triển thêm gia đình cụ Đặng Xuyên (thường gọi là ông Dẹp), gia đình cụ Nguyễn Mua… Tuy nhiên, chất lượng mè xửng người họ Trần vẫn đứng hàng đầu trở thành mè xửng “gia truyền ông Ký” với một đặc trưng độc đáo, miếng mè xửng mềm dẻo, ngọt thơm, chưa nơi nào sánh kịp…”.

 
Nghề làm mè xửng mang lại công việc ổn định cho các lao động địa phương - Ảnh: M.N 
 


Anh Trần Trung Kiên lại kể một câu chuyện “mang sắc màu huyền thoại” được các thế hệ trong gia đình họ Trần Văn truyền tụng về nguồn gốc của cái nghề nuôi sống cả gia đình qua bao phong ba bão táp của thời cuộc.

Theo đó, cụ thủy tổ của nghề (anh gọi là ông cố-Trần Văn Vấn) vốn quen thân với một tùy tùng của vua Hàm Nghi khi ông này theo vua đến mảnh đất Quảng Bình cũ. Từ tình giao hữu anh em, thấy ông cố gia cảnh khó khăn, vất vả, ông thương tình truyền lại cho nghề làm mè xửng truyền thống của Huế. Học được nghề, ông cố bắt đầu làm mè xửng với ban đầu chỉ là những sản phẩm đơn giản, bày bán trên mẹt, đi rao ở chợ quê. Dần dần, sản phẩm mè xửng được người dân yêu thích, biết đến nhiều hơn và đặc biệt, nhiều người trong làng cũng học nghề, tự sản xuất. Từ đó, chiếc mè xửng giản đơn đã trở thành nguồn sinh kế nuôi sống bao thế hệ của làng. Nghề tiếp tục được trao truyền qua các thế hệ.

Thời chiến tranh, ông nội của anh-Trần Văn Trặt còn làm “tổ trưởng” tổ sản xuất mè xửng gồm nhiều hộ gia đình. Năm 1973, khi về thăm quê hương, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã thưởng thức mè xửng và tấm tắc khen ngon, khuyên phải giữ vững nghề truyền thống. Đời thứ ba là các con của ông nội Trần Văn Trặt, gồm: Trần Văn Ký, Trần Uy Nam và cha của anh Kiên-Trần Văn Kính tiếp tục nghề gia truyền. Đặc biệt, ông Trần Uy Nam đã phát triển thương hiệu mè xửng “Uy Nam” vang danh một thời. Mè xửng “Uy Nam” trở thành đặc sản Lệ Thủy, theo chân con em xứ Lệ đi khắp bốn bể năm châu.

Đến đời anh Kiên là thế hệ thứ tư duy trì nghề làm mè xửng “gia truyền ông Ký”. Và qua sự biến thiên của lịch sử, trong “cơn lốc” khốc liệt của thị trường, nghề dần mai một, số người làm mè xửng càng ít dần. Hiện tại, hộ gia đình anh Trung Kiên là hộ hiếm hoi còn giữ nghề và phát triển cho đến ngày nay.

“Bí quyết từ tâm”

“Mỗi tháng, hơn 5 tấn mè xửng các loại, kẹo bạc hà, kẹo gừng được xuất bán, tạo việc làm cho 8 lao động thường xuyên chưa kể nhân công thời vụ… Bí quyết nào để anh có thể duy trì được nghề truyền thống trong bối cảnh khó khăn của thị trường?”, trả lời câu hỏi, không nghĩ ngợi nhiều, anh Kiên chia sẻ ngay: “Tất cả đều là “bí quyết từ tâm”. Mọi tâm huyết của tôi đều đặt vào các khâu sản xuất, từ chọn, nhập nguyên liệu, quá trình sơ chế, chế biến và cho ra thành phẩm, đóng gói. Phải sản xuất như chính cho gia đình, con em mình thưởng thức”.

Mè và lạc đều được chọn lọc kỹ từ nông sản Quảng Trị, theo đúng chuẩn truyền thống, hạt nhỏ, nhiều dầu, thơm nồng mùi mới thu hoạch. Đường cũng là đường truyền thống chuẩn, gừng và bạc hà chiết xuất làm kẹo cũng phải chọn gừng ta, lá bạc hà sạch. Vì vậy, chỉ cần thưởng thức một lần, khách hàng sẽ nhớ mãi hương vị của sản phẩm Hiếu Kiên.

“Sự khác biệt giữa mè xửng Huế và mè xửng gia truyền ông Ký là nếu ở Huế, ưa chuộng mạch nha, không sử dụng nước cốt chanh thì ở đây, tôi chỉ sử dụng đường trắng và nước cốt chanh được thêm vào theo công thức gia truyền. Vì vậy, mè xửng Hiếu Kiên luôn có hương vị riêng, không lẫn giữa nhiều sản phẩm mè xửng truyền thống của các vùng miền khác”, anh Trung Kiên cho biết thêm.

Sản phẩm mè xửng Hiếu Kiên 5 lần được bình chọn là sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu tỉnh Quảng Bình cũ từ năm 2016 đến năm 2024.


“Hữu xạ tự nhiên hương” và bề dày truyền thống lâu đời, sản phẩm mè xửng Hiếu Kiên có thị trường tiêu thụ rộng khắp, thậm chí theo chân khách hàng ra nước ngoài. Ngay ở TP. Đà Nẵng vốn nổi tiếng với nhiều đặc sản, anh Kiên vẫn có thể duy trì một lượng hàng khá lớn. Anh cũng mạnh dạn bán hàng trực tuyến theo xu thế thương mại điện tử, tuy không nhiều nhưng cũng góp phần đa dạng thị trường, quảng bá sản phẩm rộng rãi hơn.

Sắp tới, anh dự định sẽ thay đổi mẫu mã sản phẩm theo hướng thân thiện với môi trường, phù hợp với xu thế hiện nay. Khó khăn lớn nhất hiện nay của hộ gia đình anh là đưa sản phẩm vào hệ thống siêu thị. Anh không lo ngại sự cạnh tranh gay gắt từ sản phẩm cùng chủng loại, chỉ ngại giá sản phẩm sẽ bị đẩy lên cao do nhiều chi phí phát sinh khác. Do đó, anh rất mong sẽ có sự hỗ trợ tích cực hơn nữa từ chính quyền địa phương, sở, ngành liên quan.

Theo Phó Chủ tịch UBND xã Lệ Thủy Lê Văn Tân, sản phẩm mè xửng Hiếu Kiên là một trong những sản phẩm tiêu biểu của địa phương, được ưa chuộng và đánh giá cao về chất lượng. Xã cũng tích cực hỗ trợ và tạo mọi điều kiện để sản phẩm lan tỏa rộng rãi hơn trên thị trường và tạo được thương hiệu, chỗ đứng riêng trong lòng người tiêu dùng.

Nguồn tin: Báo Quảng Trị

Những chiến công không bao giờ bị lãng quên! - Bài 2: Chuyện người con làng Đồng Hải anh hùng

Mai Nhân |

Ở một góc nghĩa trang liệt sĩ Đồng Hới có một ngôi mộ nhỏ nằm lặng lẽ giữa các mộ phần của đồng đội, đó là nơi an nghỉ của Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân (AHLLVTND) liệt sĩ Đặng Y, một chiến sĩ của đội công binh F73 Đồng Hới (còn gọi là đội rà phá bom mìn F73 Đồng Hới) năm xưa. Người con anh dũng của làng biển Đồng Hải đã hy sinh khi tuổi đời mới ngoài 20 để lại bao hoài bão, ước mơ dang dở và sự tiếc thương của gia đình, đồng đội. Đã gần 60 năm kể từ ngày anh đi xa, nhưng tấm gương dũng cảm, kiên cường của anh vẫn còn sống mãi.

Những thầy thuốc của bản làng

Thanh Tùng |

Được đào tạo bài bản với những cơ hội rộng mở, nhưng nhiều y bác sĩ đã chọn công tác lên vùng cao, bám trụ nơi bản làng xa xôi để chăm sóc sức khỏe cho Nhân dân. Họ dồn hết tâm huyết, tận tâm với từng người bệnh, thực hiện trọn vẹn lời dạy của Bác: “Thầy thuốc phải như mẹ hiền”. Với đội ngũ y bác sĩ tại xã biên giới Thượng Trạch, việc thăm khám, theo dõi sức khỏe và hỗ trợ bà con trở thành công việc hằng ngày, giúp cuộc sống nơi vùng cao ổn định hơn.

Cần sớm nâng cấp, xây mới cầu Bến Làng Trâm Lý ở xã Vĩnh Định

Tạ Hưng |

Từ nhiều năm nay, người dân xã Vĩnh Định hết sức băn khoăn, lo lắng trước thực trạng cầu Bến Làng Trâm Lý bắc qua sông Nhùng đang ngày càng xuống cấp nghiêm trọng. Đặc biệt, qua các đợt lũ lụt vừa qua, nhiều hạng mục của cầu có dấu hiệu hư hỏng nặng hơn, tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn cho người và phương tiện trong quá trình lưu thông qua cầu.

Bình yên cho những làng quê

Tâm An |

Gần hai thập niên hiện diện tại Quảng Trị, Tổ chức Viện trợ Nhân dân Na Uy (NPA) đã trở thành một trong những lực lượng nòng cốt trong công cuộc khắc phục hậu quả bom mìn tại địa phương. Mỗi quả bom được phát hiện, mỗi mét vuông đất được làm sạch không chỉ xóa đi một mối hiểm nguy mà còn mở ra cơ hội sống, sản xuất và phát triển cho hàng nghìn người dân. Bằng sự bền bỉ, chuyên nghiệp, NPA đã và đang góp phần đưa Quảng Trị tiến gần hơn đến mục tiêu “tỉnh an toàn”.