Chế Lan Viên – Hàn Mặc Tử, đôi tri kỷ thơ hiếm có

NGUYỄN HOÀN |

Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị. Cả hai đều phát lộ tài thơ từ rất sớm. Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14 tuổi, xuất bản tập thơ “Gái quê” năm 1936, tập thơ được in duy nhất khi ông còn sống. Chế Lan Viên có thơ đăng báo lúc 15 tuổi, xuất bản tập thơ “Điêu tàn” năm 1937, lúc 17 tuổi. Cả hai đều có những tìm tòi, cách tân mới lạ cho thơ Việt Nam hiện đại. Điểm tương đồng này khiến cả hai sớm đến với nhau, trở thành đôi tri kỷ thơ hiếm có.

 
Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử là hai nhà thơ lớn người Quảng Trị 

Cả hai có mặt trong nhóm “Bàn thành tứ hữu” (bốn người bạn ở thành Đồ Bàn, Bình Định) gồm: Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Yến Lan và Quách Tấn. Vì yêu quý tình bạn, tình thơ của nhóm này, có người đã dùng tên của bộ tứ linh “long, lân, quy, phụng” để đặt cho từng người trong nhóm: Hàn Mặc Tử là rồng (long), Chế Lan Viên là phụng, Yến Lan là lân và Quách Tấn là rùa (quy). Tên tứ linh chỉ là “đặt chơi” nhưng đã thể hiện đúng về con người và văn nghiệp của mỗi người, trong đó, Hàn Mặc Tử và Chế Lan Viên là rồng, phụng. Và rồi, cả hai đều có mặt trong Trường thơ Loạn, một hiện tượng độc đáo của phong trào Thơ Mới. Ở đây, “Loạn” chính là tìm kiếm cái mới lạ, kỳ dị, siêu thực. Theo nhà thơ Quách Tấn: “Trường thơ Loạn ra đời năm 1938, lúc bấy giờ Chế Lan Viên đã xuất bản tập “Điêu tàn”, Hàn Mặc Tử đã hoàn chỉnh tập “Thơ điên”, Yến Lan đã hoàn thành tập “Giếng loạn”.

Nhân đó ba bạn Hàn – Chế – Yến mới cao hứng dựng nên Trường thơ Loạn. Bài tựa tập “Điêu tàn” và bài tựa tập “Thơ điên” thay thế lời tuyên ngôn lúc Trường thơ mở cửa” (Quách Tấn, Bóng ngày qua, NXB Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh, 2001, tr. 5). Qua hai bài tựa “tuyên ngôn” về xu hướng, tính chất của Trường thơ Loạn này, cho thấy cách nghĩ tương đồng của Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử trong việc làm thơ, trong cùng “trường thơ”. Khi viết lời tựa cho tập thơ “Điêu tàn”, Chế Lan Viên nghĩ ngay đến Hàn Mặc Tử, người bạn chủ trương “thơ điên”: “Hàn Mặc Tử nói: Làm thơ tức là điên. Tôi thêm: làm thơ là sự phi thường. Thi sĩ không phải là Người. Nó là Người Mơ, Người Say, Người Điên. Nó là Tiên, là Ma, là Quỷ, là Tinh, là Yêu. Nó thoát Hiện tại. Nó xối trộn Dĩ Vãng. Nó ôm trùm Tương Lai”. Cùng mối hoà điệu với Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử khi viết tựa tập thơ “Đau thương (Thơ điên)” đã tỏ nỗi bàng hoàng, “mê sảng” khi được sống tận cùng nhờ thơ, vì thơ: “Tôi làm thơ? Tôi đã sống mãnh liệt và đầy đủ. Sống bằng tim, bằng phổi, bằng máu, bằng lệ, bằng hồn. Tôi đã phát triển hết cả cảm giác của Tình yêu. Tôi đã vui, buồn, giận, hờn đến gần đứt sự sống”, “vườn thơ tôi rộng rinh, không bờ bến. Càng đi xa càng ớn lạnh”.

Hàn Mặc Tử là đàn anh của Chế Lan Viên (hơn Chế Lan Viên 8 tuổi), “vốn Hàn coi Chế như em ruột và quý như bạn thân” (Quách Tấn). Khi tập thơ “Điêu tàn” xuất hiện, Hàn Mặc Tử đã nhiệt thành chào đón và khen ngợi hết mực. Hàn Mặc Tử đã làm bài thơ “Thi sĩ Chàm” tặng Chế Bồng Hoan (tên Hàn Mặc Tử đặt cho Chế Lan Viên), lột tả cái hay lạ lùng của “Điêu tàn”: “Người lắng nghe, lắng nghe trong đáy giếng/ Tiếng vàng rơi chìm lỉm xuống hư vô/ Tiếng ngọc địch nhớ nhung còn uyển chuyển/ Bên cầu sương lưu đọng ánh trăng mơ/ Người thổn thức tiếc buồn bao cảnh sắc”. Hàn Mặc Tử còn viết bài “Chế Lan Viên – một thi sĩ “điên” (Tựa tập thơ “Điêu tàn” của Chế Lan Viên)” đăng trên báo “Công luận”, số 7800, ra ngày 9.9.1938 với nhiều dòng phấn khích trước tài thơ độc đáo của Chế Lan Viên: “Chế Lan Viên quả là một tướng giặc đã can đảm xách giáo, mang gươm, xông vào trận mạc để chém lão tướng “Đường”, quét “thất luật”, đánh “kháng vận”, dẹp “tám câu”, chặt “năm vần”. Chế Lan Viên quả là một dũng sĩ, dám xông pha giữa cung cấm, gào thét trong khi các “lá ngọc cành vàng” yên lặng ngủ… ”, “sau khi đọc xong quyển “Điêu tàn” của anh thì bao nhiêu cái buồn, cái chán, cái rùng rợn, cái hãi hùng đã làm cho tôi khóc, tôi cười, tôi vui, tôi khổ!”. Hàn Mặc Tử qua bài thơ “Trường thọ” còn vẽ nên hình ảnh Chế Lan Viên quỳ nguyện Thần Thơ, tức là Khúc Tinh chiếu mạng cho người thơ có được nguồn thơ sáng láng, chan chứa ly tao và sống mãi, trường thọ (theo Tử vi Đẩu số, Khúc Tinh là hai sao Văn Khúc, Vũ Khúc chiếu mạng ai thì người đó văn hay chữ tốt): “Chế Lan Viên quỳ dâng tràng chuỗi hột/ Cầu Khúc Tinh hằng chiếu mạng người thơ/ Nên đường trăng sáng láng tự bao giờ/ Lạy chín phẩm thiên thần xin chứng giám!”.

Với tập thơ đầu tay “Điêu tàn”, Chế Lan Viên có được tiếng tăm và vị trí trang trọng trên chiếu thơ của làng Thơ mới, như Hoài Thanh – Hoài Chân đã khẳng định: “Quyển “Điêu tàn” đã đột ngột xuất hiện giữa làng thơ Việt Nam như một niềm kinh dị”, “Giữa đồng bằng văn học Việt Nam ở nửa thế kỷ hai mươi, nó đứng sững như một cái tháp Chàm, chắc chắn và lẻ loi, bí mật” (Hoài Thanh – Hoài Chân, Thi nhân Việt Nam, NXB Văn học, Hà Nội, tr. 221, 225). Khác với Chế Lan Viên, đường thơ Hàn Mặc Tử gặp ít nhiều “sóng gió”. Thơ Hàn Mặc Tử mới lạ mà cái mới ban đầu đâu dễ vào được với số đông? Hoài Thanh – Hoài Chân cho biết: “Tôi đã nghe người ta mạt sát Hàn Mặc Tử nhiều lắm”. Đến như Xuân Diệu, một chủ tướng của Thơ mới đã không hiểu được Hàn Mặc Tử lại còn “bóng gió” chê thơ Hàn Mặc Tử: “Hãy so sánh thái độ can đảm kia (thái độ những nhà chân thi sĩ) với những cách đột nhiên mà khóc, đột nhiên mà cười, chân vừa nhảy, miệng vừa kêu: Tôi điên đây! Tôi điên đây! Điên cũng không dễ làm như người ta tưởng đâu. Nếu không biết điên, tốt hơn là cứ tỉnh táo như thường mà yên lặng sống”. Nhưng thơ hay thì không thiếu tri kỷ, nhất là tri kỷ ở “cấp độ” Bá Nha – Tử Kỳ. “Đương thời không ai yêu Hàn Mặc Tử hơn Chế Lan Viên” (Ngô Văn Phú).

Trong hồi ức thẳm sâu của mình, Quách Tấn nhớ đến lúc Chế Lan Viên nằm gối đầu lên vế Quách Tấn mà ngâm thơ Hàn Mặc Tử. Giọng ngâm của Chế Lan Viên rất hay, trong và cao, khi ngâm thường nhấn vào những chữ tuyệt bút trong bài thơ làm tăng sức truyền cảm. Chế Lan Viên thích ngâm nhất là bài “Một nửa trăng” của Hàn Mặc Tử: “Hôm nay có một nửa trăng thôi/ Một nửa trăng ai cắn vỡ rồi/ Ta nhớ mình xa thương đứt ruột/ Gió làm nên tội buổi chia phôi”. Quách Tấn cho biết, thơ Hàn Mặc Tử bấy giờ chưa xuất bản, nhưng được nhiều người nhớ, nhiều người thuộc, đó là nhờ Chế Lan Viên. Từ hồi còn ngồi trên ghế trường Quy Nhơn, Chế Lan Viên đã chép thơ Hàn Mặc Tử đem vào trường phổ biến. Học sinh xúm nhau chép và học thuộc lòng. “Thơ Tử từ trường Quy Nhơn bay ra trường Khải Định, trường Đồng Khánh Huế. Lần lần thơ Tử lan rộng ra ngoài. Thanh danh Tử được truyền trong giới trí thức” (Quách Tấn, sđd, tr. 134).

Sau khi Hàn Mặc Tử mất trong cô độc vì bệnh nan y, chỉ hơn mươi hôm sau, Chế Lan Viên đã viết bài “Những kỷ niệm về Hàn Mặc Tử”, khóc Tử thống thiết và tỏ rõ “chính kiến” đầy bản lĩnh của mình khi xưng tụng Tử là một thiên tài với tài thơ vượt thời gian: “Tử là một thiên tài. Tử mới chính thật là thiên tài trên cái nghèo kém của đất nước này”, “Tử không có tăm tiếng. Tử không được nâng chiều, nhưng đó chỉ là bây giờ mà thôi. Chứ mai sau, tôi xin hứa hẹn với các người rằng, những cái tầm thường mực thước kia sẽ biến tan đi, và còn lại của cái thời kỳ này, chút gì đáng kể đó là Hàn Mặc Tử”. Cho dẫu còn có những ý kiến khác nhau về bài viết này, Quách Tấn đã bày tỏ sự tán đồng cao với Chế Lan Viên trong đánh giá về Hàn Mặc Tử: “Bài của Lan Viên được chú ý nhiều là vì có nhiều ý kiến trái với phần đông các thi sĩ đương thời… Thật là táo bạo nhưng cũng thật là chân thành. Nếu lời nói ấy là của một kẻ tầm thường thì người ta sẽ cho là một lời đại ngôn, vô giá trị. Nhưng đây là lời một thiên tài đã có tác phẩm đảm bảo chắc chắn, lời một người chưa hề ca tụng ai. Do đó mà người ta bàn tán nhiều. Kẻ biểu đồng, người phản đối. Lúc ấy tôi chưa quen thân cùng Chế Lan Viên, nhưng đọc văn tôi rất khoái ý, khoái không phải vì Tử được khen mà chính vì được nghe một lời nói khác thường” (Quách Tấn, sđd, tr. 97-98).

“Cảo thơm lần giở trước đèn” (Nguyễn Du). Năm 1987, Chế Lan Viên lần giở thơ Hàn, tuyển chọn, viết lời giới thiệu để làm “Tuyển tập Hàn Mặc Tử”. Bài “Hàn Mặc Tử, anh là ai?” của Chế Lan Viên viết cho tuyển tập này là một bài viết công phu, tài hoa, đánh giá khá đầy đủ và đúng tầm về thơ Hàn Mặc Tử: “May thay Tử là một đỉnh cao, loà chói trong văn học của thế kỷ, thậm chí qua các thế kỷ”. Chế Lan Viên đã nêu bật hành trình thơ Hàn Mặc Tử, từ một nhà thơ vốn làm thơ Đường luật, được cụ Phan Bội Châu ca ngợi và hoạ thơ cùng, Hàn Mặc Tử đã tiến đến thơ hiện đại như những nhà thơ hiện đại nhất châu Âu. Cho rằng, Hàn Mặc Tử trước sau vẫn là nhà thơ lãng mạn nhưng Chế Lan Viên đánh giá thơ Hàn Mặc Tử dùng nhiều yếu tố siêu thực và “chưa có ai dùng đậm đặc như anh”, “anh vẫn là của hiếm”.

Đặc biệt, Chế Lan Viên nhấn mạnh cái siêu thực của Hàn Mặc Tử không đến từ lý thuyết sách vở mà từ chính trải nghiệm sống đầy đau thương của Hàn Mặc Tử: “Hơn nữa, thiên hạ hiện đại bằng óc, bằng lời còn Hàn Mặc Tử thì bằng máu: Ta nằm trong vũng trăng đêm ấy/ Sáng dậy điên cuồng mửa máu ra”, “siêu thực của anh không phải từ sách vở ra, từ châu Âu đến, mà từ thảm kịch của anh mà ra”. Qua cảm nghiệm sâu về chất thơ Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên đã thấy rõ một chân lý nghệ thuật: “Tân là mới. Nhưng sau tân, lại còn tân của tân nữa, đó là kỳ (lạ)”. Trong bài viết “Thơ Bích Khê”, Chế Lan Viên có một phát hiện sâu sắc, tinh nhạy: Bích Khê “làm thơ”, còn Hàn Mặc Tử “bị thơ làm”. Chính Hàn Mặc Tử, qua lời tựa viết cho tập thơ “Đau thương (Thơ điên)” của mình đã bộc bạch: “Nàng (tức là Nàng Thơ – chú thích của người viết) đánh tôi đau quá, tôi bật ra tiếng khóc, tiếng gào, tiếng rú… Có ai ngăn cản được tiếng lòng tôi?”. Tức là thơ đã “ốp đồng” lên hồn Hàn Mặc Tử, cho ra loại thơ dị thường, khiến người đọc cộng cảm, “lên đồng” theo nhà thơ kỳ tài.

 
 Học sinh Trường THPT Chuyên Lê Quý Đôn, phường Nam Đông Hà, tỉnh Quảng Trị tham gia tour du lịch văn học “Tìm hiểu nhà thơ Chế Lan Viên – Từ quê hương đã hóa tâm hồn” do Amazing English Tour tổ chức tại Nhà lưu niệm nhà thơ Chế Lan Viên, xã Hiếu Giang, tỉnh Quảng Trị – Ảnh: Web Trường THPT Chuyên Lê Quý Đôn.
 
Bút tích Hàn Mặc Tử – Ảnh tư liệu. 


Từ khi Hàn Mặc Tử qua đời, phải chờ đến năm mươi năm sau (tức là năm 1990, dịp kỷ niệm 50 năm ngày mất Hàn Mặc Tử), “thiên tài trác tuyệt ấy mới được công nhận trong cả nước” (Nguyễn Viết Lãm). Nhưng ngay từ năm 1940, lúc Hàn Mặc Tử mới mất, Chế Lan Viên đã sớm “tiên tri” về sức sống “vượt thời gian” của thơ Hàn Mặc Tử. Chế Lan Viên đã giữ bền mối tri kỷ với Hàn Mặc Tử lúc Tử còn sống và cả sau khi Tử về cõi thiên thu. Một mối tri kỷ hiếm có của hai tài thơ vào loại hiếm của đất nước. Một mối tri kỷ “biệt nhãn liên tài” dành cho nhau của hai thiên tài có chung ý hướng đem đến cho thơ ca Việt Nam một dòng thơ mới mẻ, tân kỳ và hiện đại.

Ở xã Hiếu Giang, tỉnh Quảng Trị có Nhà lưu niệm nhà thơ Chế Lan Viên. Nơi đây trưng bày khá nhiều hình ảnh, hiện vật, tác phẩm của Chế Lan Viên, thể hiện phong phú về cuộc đời và sự nghiệp Chế Lan Viên. Nhưng nơi đây cần bổ sung trưng bày sâu, có tính chuyên đề về “Chế Lan Viên với Hàn Mặc Tử và Hàn Mặc Tử với Chế Lan Viên” để làm rõ hơn về mối tri kỷ thơ đặc biệt của hai nhà thơ lớn này, nhất là khi cả hai đã về với nhau trong tỉnh Quảng Trị. Việc hiểu sâu về hai nhà thơ độc đáo này giúp bạn đọc có những cơn sảng khoái “toát mồ hôi” trí tuệ khi đọc thơ Chế Lan Viên và mê sảng “toát mồ hôi” thần trí khi đọc thơ Hàn Mặc Tử: “Thơ chưa ra khỏi bút/ Giọt mực đã rụng rồi… / Lòng tôi chưa kịp nói/ Giấy đã toát mồ hôi… ” (Mùa thương – Hàn Mặc Tử).

TAGS

Một giọng thơ trữ tình, hồn hậu

Bùi Phan Thảo |

Là một trong những cây bút sung sức của tỉnh Quảng Trị, nhà thơ Xuân Lợi vừa ra mắt bạn đọc tập thơ thứ tư, “Nghiêng phía miên man”, NXB Hội Nhà văn -2024.

Mùa cà phê thơm ngát

Lê Ngọc Tú |

Bắt đầu từ tháng 11 hằng năm, cà phê vào độ chín. Trên những sườn đồi ở Khe Sanh, Hướng Phùng… những trái Arabica đỏ thắm lặng lẽ tỏa hương giữa nắng gió miền cao, theo bước chân người dân đi từ nương rẫy đến bản làng. Mỗi một nụ cười là một lát cắt của mùa vụ, nơi đất trời, con người và hạt cà phê hòa quyện, kể câu chuyện dịu dàng về một vùng đất đang lớn lên bằng hương thơm của chính mình.

Đưa hương thơm Làng Vạn bay xa

Phan Phương |

Gần 10 năm nay, bên một góc nhỏ của làng Vạn (xã Bố Trạch), có một người đàn ông cao niên, mái tóc bạc trắng, vẫn miệt mài với niềm đam mê, khôi phục, lưu giữ và đưa nghề làm hương truyền thống của quê hương vươn xa. Đó là ông Nguyễn Ngọc Quang (SN 1957), một cán bộ hưu trí. Thương hiệu “Hương sạch Làng Vạn” được làm từ nguyên liệu hoàn toàn tự nhiên, có mùi thơm thanh mát, dịu nhẹ mà ấm áp, nhắc nhớ hương vị Tết xưa, nên đã được khách hàng gần xa đón nhận…

Người thơ đi đến tận cùng giản dị

H.T.A |

Tôi đọc khá nhiều thơ của Ngô Đức Hành. Trước khi được in thành tập, hầu hết các bài thơ đã được anh chia sẻ trên facebook. Điều thú vị là mỗi ngày anh đăng rất nhiều “tút”, có thơ, bài báo, tản văn và cả những câu chuyện thời sự nóng hổi. Anh từng nói, đi đâu cũng cầm điện thoại để gõ, ý vừa lóe lên là phải giữ lại. Cách viết ấy nghe qua tưởng ngẫu hứng nhưng thực ra chứa sự kiên trì, cứ viết, rồi mài dũa, chữ nghĩa dần tinh lọc. Hành trình sáng tác của anh vì thế đong đầy nhịp thở thường ngày. Lao động chữ nghĩa đã giúp anh khẳng định giọng điệu riêng, dung dị mà đằm sâu từ tập thơ Ví giặm quê mình (năm 2015). Và cũng từ giọng điệu ấy, anh đã góp một sắc màu riêng cho diện mạo thi ca hôm nay.